Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019

Vụ Alexandre de Rhodes- NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN ĐẮC XUÂN TRẢ LỜI THƯ NGUYỄN ĐĂNG HƯNG

Lời dẫn- Ông Nguyễn Đăng Hưng sinh ngày 1 tháng 1 năm 1941 tại làng Bồ Mưng, xã Điện Thắng Bắc, huyện Điện Bàn, một vùng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Nam. Ông mồ côi mẹ từ sớm. Từng học trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký, Saigon. Năm 1960, dưới thời ngụy Ngô Đình Diệm, Nguyễn Đăng Hưng được đi du học ở Bỉ, học ngành Vật lý rồi ở lại đó suốt 40 năm. Sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Đăng Hưng trở về Việt Nam bắt đầu tham gia hoạt động của những ổ nhóm phản động. Ngày 9.12.2015,  Nguyễn Đăng Hưng cùng với nhóm rận Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Đình Cống, Chu Hảo, Nguyễn Phước Tương (Tương Lai), Nguyễn Trun... đã gửi một bức thư ngỏ đến Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội lần thứ XII và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Bức thư đề nghị "đổi tên đảng (không gọi là Đảng Cộng sản); đổi tên nước (không gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa); trả lại tự do cho những “tù nhân lương tâm”, đồng thời nêu ý kiến "Thực tiễn của nước ta cũng như trải nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rõ sai lầm và thất bại của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin”.
Vì những hoạt động phản động này, Nguyễn Đăng Hưng đã bị cơ quan an ninh Tp Hồ Chí Minh “mời uống trà”.
Với mác giáo sư Việt kiều, Nguyễn Đăng Hưng được mời tham gia hoạt động của ĐH Tôn Đức Thắng, TP Hồ Chí Minh. Ai dè, chỉ thời gian ngắn, trường này phải chấm dứt hợp tác rồi kiện ra tòa vì những lùm xùm tiền bạc.
Chúng tôi không biết trình độ ông Nguyễn Đăng Hưng về chuyên ngành đào tạo của ông ta về vật lý thì ra sao, nhưng qua những bài viết của ông ta về khoa học xã hội, đặc biệt là về lịch sử thì thấy sự am hiểu của ông quá tầm thường. Thế mà ông này dám thành lập “Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt” (thuộc Đại học Duy Tân) rồi tự phong mình là “viện trưởng”.  Hơn một năm, ông “viện trưởng” này chẳng làm được cái gì cho ĐH Duy Tân. Ngược lại, ĐH Duy Tân thường bị ê chề vì những việc làm và những phát ngôn phản khoa học, trái luân thường đạo lý của ông Nguyễn Đăng Hưng khi cố tình “vinh danh” tên Việt gian Đắc Lộ. Cực chẳng đã, Ban Giám hiệu ĐH Duy Tân mới đây đã phải ra Quyết định giải thể cái gọi là “Viện Vinhdanh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt”, và tất nhiên, ĐH Duy Tân đã tước đi cái chức vị “Viện trưởng” của Nguyễn Đăng Hưng!
Thế nhưng, trước khi mất chức “viện trưởng”, từ tháng 9/2019, Nguyễn Đăng Hưng đã dùng cái mác “viện trưởng” này để chuẩn bị cùng với “ÔNG PHẢN ĐỘNG TRẦN ĐỨC ANH SƠN LẠI “HỘI THẢO VINH DANH”  ALEXANDRE DE RHODES!...
Từ tháng 9/2019, thông báo về cái “hội thảo” này được đăng trang trọng trên trang web của Khoa Lịch sử- Đại học quốc gia Hà Nội tại địa chỉ
Mới đây, nhóm “sử gia lật sử” ở Đà Nẵng thất bại khi muốn vinh danh tên Việt gian Đắc Lộ qua dự định đặt tên một con đường tại đây, quá cay cú và không tự lượng sức mình, Nguyễn Đăng Hưng có thư ngỏ tấn công Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân.
Google.tienlang xin trân trọng đăng toàn văn THƯ TRẢ LỜI CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN ĐĂC XUÂN. Dưới đó, chúng tôi cũng xin đăng toàn văn thư ngỏ của Nguyễn Đăng Hưng để mọi người kiểm chứng nhận định trên kia của chúng tôi, rằng kiến thức về khoa học lịch sử của Nguyễn Đăng Hưng là quá tầm thường, “không đủ tuổi” để trao đổi với Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân!
Mời xem một phim tài liệu về Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân của ĐÀI PHÁT THANH & TRUYỀN HÌNH TT HUẾ
Bấm link dưới

Lê Hương Lan (giới thiệu)
********
“Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”
Thư gởi GS. Nguyễn Đăng Hưng, Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân, TP. Đà Nẵng

Thân gởi GS. Nguyễn Đăng Hưng,
Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân, Tp. Đà Nẵng

Anh Hưng thân,
Sau khi anh thấy tên tôi trong bản kiến nghị do một nhóm thầy giáo và các nhà nghiên cứu Văn hóa Lịch sử ở Huế, Hà Nội và TP HCM gởi cho lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng, đề nghị không nên lấy tên hai vị Linh mục Francisco de Pina (Pi-na) và Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đặt tên cho hai con đường mới ở Thành phố Đà Nẵng, anh đã gọi điện thoại cho tôi bảo tôi “sai” rồi và vào ngày 28-11-2019, anh và ông Nguyễn Huy Cường nào đó còn gởi thư cho tôi với nhan đề “Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”.
Anh Nguyễn Đăng Hưng,
Với hơn nửa thế kỷ cầm bút, tham gia phản biện hàng chục đề tài với nhiều thể loại, nhiều cấp khác nhau nhưng chưa bao giờ tôi nhận được những lời cảnh báo “sốc” đến như vậy. Thông thường mỗi khi gặp một trường hợp phản biện tôi luôn phản biện lại ngay để bảo vệ ý tưởng của mình. Nhưng đối với lá thư của anh (và ông Nguyễn Huy Cường nào đó), một người bạn thân nhau từ hơn ¼ thế kỷ qua, tôi “im lặng” nhưng không xin lỗi. Xin lỗi ai? Và xin lỗi cái gì?
Với tư cách là một người cầm bút thân thiết với Thành phố Đà Nẵng, năm 1998, tôi đã từng phản biện giúp ông Nguyễn Bá Thanh, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng xóa bỏ tên ông Nguyễn Hiển Dĩnh đã đặt cho con đường song song với đường 2 Tháng 9 ở Đà Nẵng ngày nay, nên tôi đã không ngần ngại tham gia vào Bản kiến nghị nói trên. Và lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng đã có thư phản hồi cám ơn những người có tên trong “Bản Kiến nghị” và đồng ý (hứa) “chưa đặt tên đường hai vị linh mục lần nầy”. Như vậy, Bản Kiến nghị của chúng tôi có kết quả. Việc kiến nghị như thế đã xong rồi. Nếu sau nầy, Thành phố Đà Nẵng bỏ qua lời hứa với chúng tôi, họ lại dùng tên hai vị linh mục ấy đặt tên đường thì chúng tôi mới cung cấp thêm thông tin và kiến nghị tiếp). Chúng tôi phải lo công việc khác của mình chứ! Vì thế, tôi không biết tôi nhầm chuyện gì và phải xin lỗi ai? Sở dĩ cho đến nay tôi im lặng không phải vì lời cảnh báo rất sốc của các anh mà chính vì những lý do sau đây:
- Con cháu trong gia đình anh Cả tôi, gia đình tôi, gia đình em trai tôi, gia đình em gái tôi đều có người làm dâu trong các gia đình Thiên Chúa giáo. Bây giờ lật lại nói chuyện hay, chuyện không hay của các linh mục Thiên Chúa giáo thật không nên chút nào;
- Những trang đen trong lịch sử dân tộc tưởng đã giao cho lịch sử để bây giờ sống trong hiện tại, tự nhiên các anh bươi chuyện Đắc Lộ ra, không khéo lại “tóa lọa lọa” gây mất đoàn kết dân tộc trong lúc giặc Tàu đang rập rình cướp đất, cướp đảo ngoài Biển Đông, giữ được im lặng chuyện Đắc Lộ là phải;
- Bỏ một đời nghiên cứu, học hỏi, trải nghiệm, được học, được gặp gỡ tiếp xúc trao đổi với các bậc thức giả hàng đầu về văn hóa lịch sử, trong đó có nhiều vị là tín đồ Thiên Chúa giáo, nói đâu có tài liệu kèm theo đó,… lẽ nào lại quên hết để đi đôi co với những người mới đầu hôm sáng mai điếc không sợ súng lên mặt dạy đời sao?
Nhưng rồi do hoàn cảnh thúc ép, tôi cũng chỉ có thể giữ im lặng cho đến đây thôi. Tôi viết lá thư nầy gởi đến anh không có ý đề cập đến 6 vấn đề chúng tôi đã nêu lên trong bản Kiến nghị gởi cho Thành phố Đà Nẵng mà chỉ trao đổi với người bạn vừa nhận chức Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, Đại học Duy Tân thôi.
Anh Hưng ơi!
Anh có mời tôi xem cuốn phim “Chuyến đi Iran thăm mộ Đắc Lộ của anh trên Net. Tôi đã xem và giới thiệu với các bạn tôi cùng xem. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là các anh đã làm rõ được nơi an nghỉ cuối cùng của một vị linh mục có tên trong lịch sử CQN, có công lớn trong việc truyền Đạo Thiên Chúa vào VN. Một người nổi tiếng như thế mà các Giáo hoàng Vatican bỏ rơi ông ở một nơi hiu quạnh như thế thật bất nhẫn. Và không hiểu có biết bao linh mục, giáo dân giàu có mà xưa nay đã có ai đến viếng mộ ông Đắc Lộ chưa (?). 
Bài diễn văn của anh trong buổi lễ có nhiều chuyện không đúng nhưng đó là chuyện của anh tôi không nhắc lại ở đây.
1. Nhưng tôi thật bất ngờ trong diễn văn anh cho biết các anh đã khắc một tấm bia ghi ơn đặt ở ngôi mộ linh mục Đắc Lộ với nội dung “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN”. Như vậy ngày nay tiếng Việt còn, nước Việt Nam còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Một khám phá vô tiền khoáng hậu. Như vậy bảo vệ CQN của linh mục Đắc Lộ là bảo vệ Việt Nam. CQN của Đắc Lộ có một nhiệm vụ thiêng liêng như thế cho nên anh mới dành cả tuổi già của mình làm “Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ….”. Các nước Lào, Căm-pu-chia, Thái Lan, Miến Điện, Trung Quốc Nhật Bản, Hàn Quốc không dùng chữ nước họ được la tinh hóa như CQN VN, không rõ được thế lực nào đã bảo vệ mà các nước ấy đều sốn ngon lành như ngày nay. Có hai việc cần nhắc ông Viện trưởng sau đây:
1.1.- Anh đã cóp và sửa ý tưởng khắc ở khu lăng mộ cụ Phạn Quỳnh ở ấp Bình An, phường Trường An, TP Huế - địa điểm có dấu tích Cung điện Đan Dương thân thiết của tôi trên 1/3 thế kỷ qua. Nguyên văn của cụ Phạm Quỳnh trên bia đá là: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.
Bia đá “Tiếng ta còn ...” ở lăng mộ cụ Phạm Quỳnh
Anh sửa lại “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN” và khắc lên đá Non Nước đem qua dựng bên mộ linh mục Đắc Lộ ở Iran. Thực hiện việc làm nầy anh mắc hai lỗi trọng: 1. Lỗi ăn cắp ý tưởng của người khác sửa lại làm ý tưởng của anh; 2. Theo anh nước Việt Nam ngày nay còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Điều đó có nghĩa anh xóa hết công lao xương máu của bao thế hệ trường kỳ kháng chiến từ Ngày thất thủ Kinh đô vua Hàm Nghi xuất bôn với Phong trào cần vương (1885) cho đến ngày thông nhất đất nước (1975) –ròng rã suốt 90 năm. Người ngoại quốc đọc tấm bia làm ô nhục dân tộc VN đó họ sẽ nghĩ như thế nào? Với tư cách là môt công dân VN; tôi đề nghị anh nhờ người hủy tấm bia đá đó kẻo xấu hổ lắm;
1.2.- Anh không phân biệt được “tiếng” và chữ viết. Có ai đó gọi tên anh, người học chữ Hán và chữ Nôm ghi ngay 登興, người học CQN ghi “Đăng Hưng”. Tiếng của một dân tộc không thay đổi, luôn tồn tại và phát triển, nó có âm điệu, có nhạc (nhất là tiếng VN), còn chữ chỉ là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản. Tiếng không thay đổi, chữ viết có thể thay đổi qua thời gian như chữ Hán, chữ Nôm, chữ CQN của ta vậy. Trong ngành bưu điện hay ngành truyền tin quân đội trước đây người ta còn dùng ký hiệu điện báo móoc (morse) nữa. Tiếng nói mới là tâm hồn dân tộc. Cả một kho tàng ca dao tục ngữ, dân ca khắp ba miền truyền khẩu qua bao đời nay có chữ chiếc gì đâu. Tôi không ngờ anh không phân biệt được hai lãnh vực “tiếng” và “chữ” nên mới đem Tình Ca của Phạm Duy “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…” ra hát bên mộ giáo sĩ Đắc Lộ - tác giả Tự điển Việt Bồ La. Con nít mới ra đời được nghe lời ru của mẹ từ ca dao, dân ca chứ làm gì có chuyện trẻ con còn nằm trong nôi đã biết CQN của linh mục Đắc Lộ của anh? Nếu Phạm Duy biết chuyện nầy sớm có lẽ nhạc sĩ không cho phép tôi đưa anh đến thăm Phạm Duy năm ấy.

2. Trong buổi lễ nhớ ơn Đắc Lộ, các anh đã tôn vinh sách Phép Giảng Tám Ngày của linh mục Đắc Lộ. Nội dung ngày thứ tư, Đắc Lộ đã mạ lỵ, xúc phạm hết sức thô bạo:
Sách Phép Giảng Tám Ngày được GS Nguyễn Đăng Hưng dâng hiến trong lễ tôn vinh Cố đạo Đắc Lộ ở Iran ngày 5-11-2018

-Ngày Thứ tư, Đạo bụt: “giáo ngoài và giáo trong” (tr.101 và 102). Gọi Phật bằng nó, thóa mạ, miệt thị Đạo Phật là đạo gian, đạo dối trá, đạo Phật dày đặc những truyện giả, xiêu dối thế gian  nên phạm tội lỗi, đạo Phật là đạo “rợ mọi”, theo đạo Phật là quỷ quái, ai theo đạo Phật là ngu, thờ Phật là đứa gian, ai tin  Phật, không tin chúa là phạm mọi tội.v.v.

-Ngày Thứ tư, mục “Những sự dối trá của Thích Ca về linh hồn ta”. (Tr.110-111). Phê phán tục cúng ông bà tổ tiên của Việt Nam.

- Ngày Thứ tư, mục “Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ” (Tr.112, 113). Cúng cha mẹ chết là có lỗi.

Anh tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày, tức là anh tôn vinh cho quan điểm trịch thượng bất kính ngạo mạng của linh mục Đắc Lộ đối với giáo chủ của các tôn giáo khác. Trong Phép Giảng Tám Ngày có 9 lần Đắc Lộ nói đến “Thích Ca”, 3 lần dùng chữ “rợ mọi” đối với Đạo Bụt (Đạo Phật), 20 lần nói đến “đạo bụt” với tính cách miệt thị, dạy con chiên gọi những người thờ Bụt (Phật) là “giáo ngoài”, con chiên gọi người khác đạo là “ngoại giáo”.

Anh tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày, xóa bỏ hoàn toàn đời sống văn hóa tâm linh Việt Nam của linh mục Đắc Lộ. Từ nay, anh có thể không vào bất cứ nơi nào thờ Phật Thích Ca trên thế giới nầy nữa, nhưng lẽ nào anh đập bàn thờ tổ tiên, không giỗ chạp cúng bái cha mẹ nữa được sao? Anh không biết Cộng đồng Vatican 2 (từ 1962 đến 1965) đã cho phục hồi việc thờ cúng ông bà cha mẹ của giáo dân ở VN rồi sao? Trong HTKH Mừng 400 năm Dòng Tên, …có hai báo cáo, báo cáo thứ hai mang tựa đề “Cái nhìn về các tôn giáo theo sách giáo lý (Cathechismus Phép Giảng Tám Ngày) của cha Đắc Lộ” của linh mục. Anton Nguyễn Cao Siêu S.J. trình bày.

Tác giả đã kết luận tham luận “Phép Giảng Tám Ngày” là một cuốn sách giáo lý nhằm dạy cho những ai muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời. Đối với Đắc Lộ, chỉ Kitô giáo mới là đạo thật, giúp con người được ơn tha tội và có sự sống vĩnh hằng. Chính từ xác tín này mà Đắc Lộ nhìn các tôn giáo trên đất An Nam: Đạo thờ ông bà của người Việt, cũng như đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật. Khi giảng cho người dự tòng, Đắc Lộ muốn đề cao cái hay của đạo mới, nên nhấn mạnh đến những điều mà Ông cho là không đúng, không hay nơi các tôn giáo khác. Hơn nữa, cái nhìn của Đắc Lộ, một thừa sai Tây phương ở thế kỷ 17, cũng chịu ảnh hưởng của nền thần học thời đó về ơn cứu độ. Đối với chúng ta hôm nay, cái nhìn này có những giới hạn và sai sót, cả trong nội dung lẫn cách trình bày. Chúng ta phải đợi Công Đồng Chung Vaticanô II mới có được cái nhìn tích cực hơn về các tôn giáo ngoài Kitô giáo” (NĐX nhấn mạnh).
Như vậy, từ Công đồng Vatican 2 (từ 1962 đến 1965), cách đây trên nửa thế kỷ TCG đã chính thức nhận sai lầm của Đắc Lộ trong Phép Giảng Tám Ngày đối với Việt Nam, sao giờ nầy anh còn tôn vinh Phép Giảng Tám Ngày say sưa đến vậy? Anh có biết nhiều linh mục Thiên Chúa giáo học Phật Thiền Chánh Niệm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa giảng ở các Nhà thờ, vừa làm Giáo thọ ở Trung tâm Phật giáo Làng Mai, Pháp quốc không?

3.- Anh tôn vinh cuốn Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của linh mục Đắc Lộ. Như anh đã biết phần Việt Bồ là sản phẩm của những người đi trước linh mục Đắc Lộ  như Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina – những bậc thầy của linh mục Đắc Lộ. Phần La tinh Đắc Lộ thêm vào theo lệnh của Vatican. Tự điển Việt Bồ La là công cụ trang bị cho các Thừa sai Thiên Chúa giáo người Bồ, người sử dụng tiếng La tinh đi truyền giáo ở VN, để cải đạo người VN theo Phép Giảng Tám Ngày.

Ngoài các Linh mục người Việt, những ai trong xã hội VN xưa nay đã biết, đã sử dụng cuốn Tự điển ấy? Sử dụng vào việc gì? Một công cụ giúp cho các Thừa sai Thiên Chúa giáo đánh vào văn hóa, vào đời sống tâm linh của người Việt Nam, tại sao ta phải cám ơn người làm ra công cụ ấy? Đời thuở nào một người có văn hóa đi cám ơn người đã chế tác ra “bom” rải thảm lên nền văn hóa của dân tộc mình như thế? Anh sẽ trả lời con cháu anh như thế nào? Phải chăng như anh đang rao giảng lâu nay vì linh mục Đắc Lộ đã có công “tạo tác chữ quốc ngữ” như lời anh khắc trên bia dựng ở mộ Giáo sĩ Đắc Lộ bên Iran?

3.1. Xét về mặt đạo đức của người biên soạn sách, người làm tự điển của linh mục Đắc Lộ), chúng tôi đã viết trong Kiến nghị gởi Thành phố Đà Nẵng đề ngày 23-10-2019. Nay tôi mách thêm cho ông Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ cái giá trị đích thực của cái công cụ truyền giáo bằng CQN của linh mục Đắc Lộ hồi ấy như sau:

* GS.TS. Nguyễn Văn Trung – một người tu xuất, nguyên Khoa trưởng ĐH Văn khoa đầu tiên của Viện Đại học Huế, tác giả cuốn sách Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại (Nam Sơn, Sài Gòn, 1963), người rất nổi tiếng trước năm 1975 ở miền Nam, ông đã tham khảo hai cuốn sách của Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) de Lanesan:

- L'Expansion coloniale de la France: étude économique, politique et géographique sur les établissements français d'outre-mer (1886) (Sự mở rộng thuộc địa của Pháp: Nghiên cứu kinh tế, chính trị và địa lý về định cư ở nước ngoài của Pháp (1886).

- L'Indo-Chine française, étude politique, économique et adminis -trative sur la Cochinchine, le Cambodge, l'Annam et le Tonkin (1889) (Đông Pháp, nghiên cứu chính trị, kinh tế và hành chính ở Nam Kỳ, Campuchia, Annam và Bắc Kỳ (1889);

Trong mục Thái độ đối xử với người bản xứ, về phương diện tôn trọng người, của cải, tôn giáo, phong tục, tập quán xã hội (tr.114), tác giả Nguyễn Văn Trung viết:

“Theo Lanessan, các vị thừa-sai Công-giáo thường nhắm quần –chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo. Nói cách khác, người công-giáo thường thuộc thành phần những giai cấp thấp hèn nhất trong xã-hội. Những người này thường được tập-hợp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn-thể dân-tộc. Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo giao-thiệp với người Lương có thể quay lại những phong-tục lễ-nghi ngoại đạo. Cũng vì lý-do sợ đó mà họ đã tạo ra chữ quốc-ngữ, chủ-đích là để giáo dân khi biết đọc chữ quốc-ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại để cho họ học chữ nho, sợ họ có thể thông cảm lại với tư tưởng ngoại-giáo. Thành ra việc sáng lập chữ Quốc-ngữ phải chăng nhằm một mục đích “ngu dân” ly- khai với văn-hóa dân tộc?” (2)

3.2. CQN của linh mục Đắc Lộ là một công cụ truyền giáo “nhằm quần – chúng, dân quê, bần cùng nghèo khổ, hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo”, ngoài ra không có ảnh hưởng, không có tác động gì đối với dân chúng ngoại đạo Thiên Chúa, đối với tầng lớp Nho sĩ, tầng lớp quan lại của hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài (dù hai xứ nầy đối nghịch nhau).

Cả hai Đàng đều trục xuất Đắc Lộ ra khỏi nước Nam. Nghiên cứu Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam(3) của Võ Long Tê khẳng định: Từ khi có Phép Giảng Tám Ngày và Tự điển Việt Bồ La (1651) cho đến ngày Việt Nam hoàn toàn bị mất vào tay thực dân Pháp (1885 - Thất Thủ Kinh Đô), trên hơn 200 năm ấy không thấy có bất cứ một tác phẩm văn học nào bằng CQN của linh mục Đắc Lộ trong đời sống người dân Việt cả. (Nếu có cũng chỉ phổ biến trong các nhà thờ mà thôi). Các tác giả Việt Nam, trong thời gian hơn 200 năm ấy, không hề biết trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo lớn ở VN đang có Phép Giảng Tám Ngày và Tự điển Việt Bồ La bằng CQN của linh mục Đắc Lộ.

Các tác giả Việt Nam cứ tiếp tục sử dụng chữ Hán Nôm của cha ông mình đã sử dụng, sáng tác nên các tác phẩm bất hủ trong cổ Văn học sử Việt Nam như Truyện Hoa Tiên, Tụng Tây Hồ Phú, Sãi Vãi, Hoài Nam Khúc, Ai Tư Vãn, Nhị Độ Mai, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm v.v.. Đặc biệt, Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu VN không mất nước, không bị thực dân Pháp và Thiên Chúa giáo bắt buộc phải bỏ chữ Hán, bỏ chữ Nôm, thay vào đó bằng CQN thì Đắc Lộ và các sách của ông ấy cũng cùng chung số phận bị lãng quên như các Tự điển La tinh hóa chữ Nhật, chữ Tàu không còn ai nhắc đến nữa.

3.3. Vì sao các nước Nhật Bản, Trung Quốc loại bỏ chữ la-tinh hóa mà VN thì vẫn giữ chữ Việt la-tinh hóa cho đến ngày nay? Để trả lời câu hỏi nầy, Giáo sư Cao Huy Thuần – Giáo sư Đại học ở Pháp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Liên Hiệp Âu Châu tại Đại học Amiens. Năm 1990, với sự bảo trợ của Đại học Yale, ông đã xuất bản Luận án Tiến sĩ Quốc gia Pháp: Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Viêt Nam (1857 1914). Tại Chương IX: Văn thư và tin tức tình báo của Giám mục Puginier (gởi cho thực dân Pháp) (tr. 276-303). Đoạn trích chụp lại nguyên văn dưới đây tại trang 300 và tr. 301:
 
Có chú thích “Notes sur la question du Tong-King, Mars 1884. Archives du ministers de la F.O.M., AOO (30) ou N.F.54.

Tác giả Cao Huy Thuần chuyển ngữ văn bản của Giám mục Puginier qua CQN như sau:

“Điều thứ hai phải làm, chính là bãi bỏ chữ Nho và thay thế, lúc đầu, bằng tiếng Việt Nam viết theo kiểu người Âu, gọi là Quốc ngữ, rồi sau đó, bằng tiếng Pháp. Không có cách nào hữu hiệu hơn cách này để tiêu diệt tinh thần đạo Nho và uy thế to lớn của nhà Nho trong dân chúng (NĐX nhấn mạnh) Thật vậy, nếu không còn dạy và dùng chữ Nho nữa trong các văn kiện chính thức, thì toàn bộ kiến thức của các nhà Nho nào có ích lợi gì? Và nếu người Việt Nam không còn biết đọc các sách cổ viết bằng chữ Nho hoặc chữ Nôm, họ đã chẳng dần dần bị dẫn đến chỗ không biết được chính văn hóa, văn minh dân tộc họ đó sao? Khi ấy triết học Nho giáo, nền tảng của tổ chức chính trị và xã hội trong nước, chẳng bị chết dần chết mòn sao?

“Nhưng công việc này phải tiến hành từ từ, tiệm tiến, đừng nói gì cả vì ngại va chạm đến dân chúng đã quen dùng ngôn ngữ và chữ Nho, và vì lý do chính trị, để tránh làm mích lòng Trung Quốc”.

“Từ lâu, tôi chủ trương dạy tiếng Pháp và dùng mẫu tự Âu châu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà tôi đã đề nghị sáu lần. Tuy nhiên, tôi vui sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta làm việc tích cực cho mục tiêu này; ngoài trường dạy tiếng Pháp của Phái bộ truyền giáo, là trường đầu tiên được thành lập ngày 8 tháng 12 năm 1884, chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5 tháng 4 năm 1885”.

“Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng mẫu tự Âu châu, việc này dễ hơn tiện hơn nhiều so với việc dùng chữ Nho. Rồi vài năm sau, nên bắt buộc mọi giấy tờ chính thức, thay vì viết chữ Nho như trước, phải được viết bằng tiếng trong nước, và mọi viên chức phải được dạy ít nhất để biết đọc và viết tiếng An Nam bằng mẫu tự Âu châu. Trong thời gian đó việc dạy tiếng Pháp sẽ tiến triển hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ sẽ cung cấp các viên chức có học ngôn ngữ chúng ta. Thế là, có lẽ trong vòng 20 hoặc 25 năm, chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều phải được làm bằng tiếng Pháp và, do đó, chữ Nho sẽ dần dần bị bỏ rơi mà không cần phải cấm học”.

“Khi đạt được thành tựu to lớn đó, chúng ta lấy đi một phần lớn ảnh hưởng của Trung Quốc tại An Nam, và đảng nhà Nho An Nam, rất căn thù sự thiết lập thế lực Pháp, cũng dần dần bị tiêu diệt”.

“Vấn để này có tầm quan trọng rất lớn, và sau việc thiết lập Gia-tô giáo, tôi xem việc phế bỏ chữ Nho và việc thay thế nó dần bằng tiếng An Nam trước rồi kế đến bằng tiếng Pháp, là một phương cách rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập lên ở Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ của Viễn Đông”(4).

Như vậy CQN của linh mục Đắc Lộ không những là một công cụ xóa bỏ nền văn hóa Việt Nam mà còn thủ tiêu luôn cả tinh thần ý chí chống Pháp để bảo vệ đất nước của người Việt Nam. Người làm ra CQN và áp đặt buộc người Việt Nam phải học là kẻ thù của dân tộc VN, làm sao anh lại có thể làm ngược lại là tôn vinh Đắc Lộ và Tự điển Việt Bồ La của ông ta? Thực dân Pháp đã thực hiện đúng quy trình của Puginier đưa ra. Lúc đầu, bắt dân học CQN rồi sau đó bước qua học tiếng Pháp dứt hẵn với chữ Nho và chữ Nôm, dứt hẵn với lịch sử, văn hóa Việt Nam.

4.- Thực dân Pháp thực hiện mưu đồ của Giám mục Puginier bắt dân ta học CQN của Đắc Lộ. Học CQN để quên đi quá khứ, quên đi lịch sử, để cải đạo, phục vụ cho thực dân Pháp rồi dần dần trở thành công bộc của thực dân Pháp. Nhà Nho Trần Tế Xương đã phản ảnh tình hình lúc đó qua bài thơ ngắn sau đây:

"Nào có nghĩa gì cái chữ Nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò"

Các chí sĩ yêu nước VN, các nhà văn hóa VN thấy rõ cái nhục đó, đứng vào cái thế bị cai trị, không còn cách chọn lựa nào khác họ đã vận dụng ngay cái công cụ phục vụ Thiên Chúa Giáo và thực dân Pháp biến thành công cụ dạy bảo cho dân VN biết được tội ác của giặc, biến cái công cụ thô sơ, hẹp hòi của địch thành một vũ khí sắc bén, vừa để đánh trả địch, vừa để xây dựng ngôi nhà văn hóa của mình. Xây dựng ngôi nhà văn hóa đó không những bằng gỗ giải hạ lấy được của giặc mà  chủ yếu bằng gạch đá của cha ông để lại (chữ Nho) cộng với tri thức của thời đại không qua con đường CQN.

Thực dân Pháp nghe lời Giám mục Puginier loại bỏ chữ Hán, chữ Nôm, nhưng chính trong giai đoạn nầy xuất hiện nhiều người Việt giỏi Hán Nôm. Giỏi Hán Nôm không phải để trở thành khoa bảng như ngày xưa mà thực tế để xây dựng văn hóa Việt Nam. Người Pháp không ngờ các trí thức Hán Nôm (như cụ Đào Thái Hanh ở Sa-đéc, tác giả Ái Châu Danh Thắng,  rất giỏi Hán Nôm và cũng là người giỏi tiếng Pháp) và ngược lại những trí thức rất giỏi tiếng Pháp và cũng rất sành Hán Nôm (như cụ Phạm Quỳnh, cụ Hoàng Xuân Hãn).

Tôi không nghiên cứu ngữ học Việt Nam, chỉ với tư cách là một người cầm bút tôi nghĩ trong tiếng nói và chữ viết tiếng Việt hiện nay có ít nhất từ 70% đến 80% là chữ Hán Việt (chữ Nho), còn lại 30% hay 20% chữ thuần , trong đó có CQN do Giáo sĩ Đắc Lộ chép của các vị Thừa sai người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và chữ thuần Việt xuất phát từ các địa phương khác mà thời các vị Thừa sai người Bồ, người Tây Ban Nha chưa biết. 70% đến 80% dùng chữ Hán Việt (chữ Nho) là gì? Là các chữ do người VN sử dụng (chữ Nho) theo nghĩa của người Việt, hoặc sử dụng những từ mới do các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mới phát minh sau nầy. 70% đến 80%  chữ Việt dùng Hán Việt trong các lãnh vực Khoa học (Toán học, Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Y học, Địa chất học.v.v.), trong lĩnh vực Luật học, trong lĩnh vực Triết học, Kiến trúc, Xây dựng, Nghệ thuật, Thương mại .v.v.. Và ngay bây giờ trong lĩnh vực Công nghệ 4.0.

Ta nói “trí tuệ nhân tạo” có từ nào là thuần Việt đâu? Tôi không nghiên cứu ngữ học tôi không biết hết, nhưng qua quá trình học vấn hạn hẹp của tôi: Tôi đã học khoa học nhờ Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu  Luật học nhờ từ điển Luật của Vũ Văn Mẫu, học Triết học bằng Danh từ Triết học của Nguyễn Văn Trung. Gia tài CQN ngày nay của VN do biết bao người đóng góp xây dựng nên. Tại sao ông Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ chỉ vinh danh các Giáo sĩ Pi-na và Đắc Lộ không mà thôi?

Và, chắc anh cũng biết, sau ngày Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, cuộc diễn hành mừng Cách mạng ở Hà Nội, bộ đội Việt Minh mặc binh phục của Pháp, đeo súng Pháp. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến, vũ khí chống Pháp hầu hết cũng đều của Pháp. Vậy có khi nào ta đặt vấn đề tôn vinh cám ơn những người đã làm ra những vũ khí và binh phục cho ta chống Pháp không? Chắc chắn là không.

Anh là nhà vật lý chắc anh biết Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc (1931–2014) là một học giả người Mỹ gốc Việt. Ông tốt nghiệp bằng Tiến sĩ vật lý tại Đại học Wisconsin - Madison, Hoa Kỳ, ông từng giảng dạy tại trường ĐH Khoa học Sài Gòn và các cơ sở giáo dục của VNCH đồng thời có thời gian nhập ngũ làm sĩ quan trong quân đội VNCH, Trần Chung Ngọc sang định cư tại Hoa Kỳ, tiếp tục nghiên cứu vật lý, nghiên cứu các vấn đề lịch sử, văn hóa, tôn giáo Việt Nam. Năm 1994, ông kết luận bài viết Alexandre de Rhodes: Công hay Tội? như sau:

“Một tên giặc tới nhà chúng ta, tạo ra một thứ vũ khí để dễ bề quyến rũ con em nhẹ dạ theo chúng phản lại tổ tiên, chúng ta dùng vũ khí đó để mở mang đầu óc của tất cả những người trong gia đình nhờ đó mà gia đình chúng ta bảo vệ được truyền thống luân lý đạo đức của gia đình,bảo toàn gia sản của tổ tiên khỏi bị cướp đi, vậy chúng ta nên nhớ ơn những người trong gia đình có sáng kiến dùng ngay vũ khí của địch để đánh địch hay là chúng ta nên nhớ ơn kẻ đã mang vũ khí đến nhà chúng ta để cướp đi của cải và gây bất hòa trong gia đình chúng ta?
Tôi hy vọng vấn đề công và tội của Alexandre de Rhodes nay đã sáng tỏ”.(5)

Anh có thể không đồng ý với nhận định của TS Trần Chung Ngọc, nhưng ít ra anh cũng biết được rằng trong xã hội VN hiện nay, không phải ai cũng nghĩ về linh mục Đắc Lộ và CQN của ông như anh. Anh có quyền vinh danh linh mục Đắc Lộ, anh có quyền vinh danh Phép Giảng Tám Ngày nhưng anh không được nhân danh dân tộc VN vinh danh nhừng người anh đang phấn đấu vinh danh như anh đã khắc lên bia đá “ CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN”.

5. Vừa rồi anh nói trên Net: “Đà Nẵng không đặt thì ở Quảng Nam sẽ đặt tên đường hai vị”. Anh là Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân chứ đâu phải HĐND tỉnh Quảng Nam mà có thể khẳng định như vậy? Mà nếu là tỉnh Quảng Nam đi nữa thì tỉnh Quảng Nam đâu có thể vượt qua được chủ trương của nhà nước Việt Nam: “Điều 10, Khoản 5 về Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng như sau:

“Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì chưa xem xét đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng”.

Alexandre de Rhodes là một người có công với Vatican mà có tội với dân tộc Việt, rắc rối như thế làm sao HĐND tỉnh Quảng Nam có thể chọn ông để đặt tên đường được chứ! Nhà thơ, ca sĩ Nguyễn Đăng Hưng mới lãng mạn như thế chứ không phải ông Giáo sư Vật lý phá vỡ ở Bỉ!

6. Có lẽ anh đã cảm thấy bị hố nên anh lại viết lại trên FB rằng “Đặt tên đường hay không đâu quan trọng, bởi trong tâm tưởng người Việt, với nết nghĩ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vẫn có Alexandre de Rhodes, bởi chữ quốc ngữ từ ông hiện hữu đang được dùng mỗi ngày”.
 
Anh lại sai nữa rồi. “Đặt tên đường hay không đâu quan trọng” thế thì anh – một trong những người cổ vũ cho TP. Đà Nẵng lấy tên hai linh mục Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes đặt tên đường phố làm gì để gây nên cuộc tranh luận gây mất đoàn kết đang diễn ra như hiện nay? Anh dẫn đoàn đi Iran vinh danh Đắc Lộ, vinh danh Phép Giảng Tám Ngày, việc Quảng Nam tổ chức Hội thảo CQN, chuyện Quảng Nam thiết kế xây dựng công viên Dinh trấn Thanh Chiêm CQN có ai chính thức phản đối gì đâu. Anh viết : “Bởi trong tâm tưởng người Việt, với nết nghĩ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” vẫn có Alexandre de Rhodes bởi chữ quốc ngữ từ ông hiện hữu đang được dùng mỗi ngày”. Nhận thức của anh trên đây có hai điều sai:

6.1. Giáo sĩ Đắc Lộ có làm ra CQN đâu, ông ta chỉ là người cóp của các Thừa sai Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina. Cóp xong rồi hủy hết tất cả di cảo mà ông đã sử dụng của các tác giả từng là ân nhân, là thầy của ông để dành cái quyền làm chủ CQN độc nhất là Alexandre de Rhodes? Khối di cảo đó rất lớn mới giúp cho Alexandre de Rhodes khai thác làm nên công trình Tự điển Việt Bồ La, làm sao có thể mất được? Tại sao anh không lên án Alexandre de Rhodes về hành vi hủy di cảo CQN của những người đi trước như đã đề cập mà chỉ vinh danh Alexandre de Rhodes là sao ?

Anh sống ở TP HCM lâu chắc anh biết học giả An Chi. An Chi đã giải thích công việc anh đang theo đuổi là:

“Cái  tâm lý đòi dân ta phải mang ơn A.de Rhode chẳng qua là hậu quả của sự nhồi sọ mà bọn thực dân Pháp đã thực hiện trong thời kỳ chúng còn cai trị dân ta, nước ta. Ngoài ra, còn có thể có cả những nguyên nhân khác thuộc tâm thức riêng, và cả...tín ngưỡng riêng nữa.”
 “Người ta thì làm cuốn tự điển để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạo của người ta mà mình thì cứ nằng nặc đòi người Việt Nam phải ghi công ông cố đạo Alexandre de Rhode, thậm chí có người mà lòng biết ơn cụ cố còn làm tượng nặng đến 43 tấn.” (Theo antg.cand.com.vn)

6.2.- Anh xem thử CQN trong đời sống với công nghệ 4.0 hiện nay có bao nhiêu phần trăm CQN có trong Tự điển Việt Bồ La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của Đắc Lộ? Có ít nhất 70% đến 80% từ Hán Việt (chữ Nho). Ví dụ “Công trình nghiên cứu chữ quốc ngữ” (cụm từ 1)  của anh gồm 7 từ, chỉ có 1 từ (chữ) Việt và có đến 6 từ  do cha ông chúng ta đã sử dụng Hán Việt (chữ Nho), 6 từ nầy không thể có trong Tự điển Việt Bồ La của Đắc Lộ. “Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng tham gia Hội thảo Khoa học về Chữ Quốc Ngữ” (cụm từ 2) có 15 từ, chỉ có 2 từ Việt (về, chữ) còn có đến 13 từ Hán Việt (chữ Nho).

Chữ viết trong đời sống của chúng ta hiện nay như thế đấy. Tại sao anh không nhớ những người làm ra 6 từ trong cụm từ 1 và 13 từ trong cụm từ 2 ấy mà chỉ nhớ người chép mấy từ “chữ”, “về chữ” trong Tự điển của Đắc Lộ mà thôi? Anh có biết sách Danh Từ Khoa Học của cụ Hoàng Xuân Hãn ra đời năm 1942, đã được Hội Khuyến Học Nam Kỳ tăngh thưởng từ năm 1943 không? “Quyển sách “Danh từ khoa học” của cụ Hoàng Xuân Hãn viết năm 1942 bàn về việc “nhập khẩu” thuật ngữ khoa học, ở đó có các chỉ dẫn hữu ích để chọn cách tạo ra từ ngữ mới khi dịch”.
 
Nếu trước đây không có Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn anh có học Toán, học khoa học bằng tiếng Việt được không? Anh có biết  Cái học ban đầu đưa anh lên lấy bằng Tiến sĩ vật lý sao anh không nhớ? Cái quả CQN ngày nay chúng ta đang sử dụng là một công trình góp công góp sức của biết bao người qua hàng trăm năm, các nhà Nho không tên tuổi, các ông Trương Vĩnh Ký với Gia Định Báo, Huỳnh Tịnh Của với Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục, Nhóm Đông Dương Tạp Chí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhóm Nam Phong Tạp Chí, Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Tường Tam với Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Chí Minh, Phong trào Bình Dân Học Vụ, Phạm Văn Đồng, Nhóm Giáo sư trường Khải Định (sau năm 1956 lấy lại tên Quốc Học) và trí thức Huế (như Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn.v.v.), Nguyễn Bạt Tụy, Trương Văn Chình, Lê Ngọc Trụ, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Trung,.v.v. Anh chỉ vinh danh Đắc Lộ - người làm ra công cụ truyền giáo là vô ơn bội nghĩa với những người đã góp công xây dựng nên CQN cho dân tộc ngày nay.

7. Có lẽ đến hôm nay anh đã được đọc nhiều bài viết về linh mục Đắc Lộ và Lịch sử CQN của ông mà trước khi nhận chức Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân anh chưa đọc. Và chắc anh cũng không ngờ chuyện linh mục Đắc Lộ trước đây nó đã dữ dội đến như vậy và đang diễn ra trên mạng xã hội rầm rộ đến như vậy.

Có người gọi tôi: “Ông X. ơi, chuyện Đắc Lộ tôi tưởng đã giấu được rồi để lo chuyện thời sự, ai ngờ ông Giáo sư Việt kiều Bỉ Nguyễn Đăng Hưng xới lại, phát hiện thêm được nhiều thông tin thú vị quá: Chuyện ông Đắc Lộ xin nước Pháp cấp cho ông nhiều binh sĩ để ông lên đường chinh phục toàn cõi phương Đông, chuyện Lời thề của các giáo sĩ Dòng Tên trước Giáo Hoàng ghê quá. Nhiều giáo dân không thể tưởng tượng được các vị Thừa sai Thiên Chúa giáo truyền bá đạo Chúa vào VN bằng cuốn Phép Giảng Tám Ngày kinh khủng đến như thế!” Chắc cũng đã có người gọi điện thoại thông tin đó đến anh phải không ?

Anh Hưng ơi! Thật tình tôi không muốn nói chuyện nầy: Đã và sẽ, không những người ta đưa ra nhiều thông tin mới (hoặc cũ nhưng ít người biết) về linh mục Đắc Lộ và CQN của ông mà còn lôi ra nhiều thứ nữa như những trường hợp Thực dân Pháp và Thiên Chúa giáo cấu kết với nhau chiếm đất, cướp chùa, phá tượng Phật Việt Nam, về Trần Lục (Cha Sáu) kéo 5.000 giáo dân triệt hạ căn cứ chống Pháp ở Ba Đình, lôi ra các tên tuổi làm gián điệp cho Pháp và đặc biệt là nhắc lại lịch sử Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914).v.v.. Và tôi tin chắc với phương tiện in ấn dễ dàng và mạng xã hội phổ cập hiện nay, trong tương lai sẽ còn nhiều tham luận, nhiều tranh luận, nhiều sách của những người ủng hộ việc vinh danh linh mục Đắc Lộ của anh và những người hạch tội linh mục Đắc Lộ.

Việc vinh danh linh mục Đắc Lộ hay lên án ông cho đến nay không có gì mới. Chỉ xuất hiện những người viết mới thôi. Điều mà những người tử tế trách anh là anh không nắm rõ vấn đề, anh vinh danh linh mục Đắc Lộ hay ho đâu chưa thấy mà lộ ra bao chuyện không hay về Đắc Lộ và những gì liên quan đến ông. Anh không để cho ông nằm yên bên Iran mà lôi ông về VN làm chi để cho thiên hạ nhắc lại những điều không hay dành cho ông đã diễn ra trước đây và đang được bổ sung hiện nay. Từ nay cho đến nhiều đời sau nữa, tên GS Nguyễn Đăng Hưng - Viện trưởng Viện Vinh danh Chữ Quốc Ngữ và Bảo tồn tiếng Việt, trường Đại học Duy Tân, Tp. Đà Nẵng luôn gắn với linh mục Đắc Lộ. Không biết nên buồn hay nên vui anh Hưng hè?

Chuyện linh mục Đắc Lộ và CQN của ông (chứ không phải CQN của VN ngày nay) còn có thể trao đổi tiếp nhưng dù sao cũng phải tạm dừng ở đây. Nếu anh thấy chưa thỏa đáng lại sẽ trao đổi tiếp.

Tôi gởi lại anh lá thư anh đã vội gởi cho tôi: “Nếu nhầm lẫn thì xin lỗi và im lặng”. Tôi gởi lại để anh thấy tôi hay anh nên thực hiện nội dung lá thư ấy. Tôi chờ quyết định của anh.

Chúc anh “Rày hằng ngày dùng đủ”.

Thân chào anh.

Nguyễn Đắc Xuân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Alexandre De Rhodes, Hành trình và truyền giáo –Diverces Voyages et Missions, Bản dịch của Hồng Nhuệ, Bản Pháp ngữ của NXB GRAMOISY 1653,TỦ SÁCH ĐẠI KẾT, Ủy Ban Đoàn Kết Tôn Giáo, TP Hồ Chí Minh -1994.

2. Alexandre De Rhodes, Phép Giảng Tám Ngày (Bản chụp cuốn sách in đầu tiên bằng chữ quốc ngữ *In tại Roma, Italia, 1651)* Sách phục vụ nghiên cứu - không bán)

3. Cao Huy Thuần, LES MISSIONNAIRES ET POLITIQUE COLONIALE  FRANCAISE AU VIETNAM (1857-1914), The Lac Viet Series-No 13, Council On Southeast Asia Studies Yale Center For International And Area Studies.

4. Cao Huy Thuần, Giáo Sĩ  Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914), Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, 2003.

5. Cửu Long Lê Trọng Văn, PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, TUYỂN TẬP,  Hoa Kỳ, 1996.

6. Hội thảo HTKH  Mừng 400 năm Dòng Tên do Học viện Dòng Tên Việt Nam tổ chức tại P. Linh Trung, Q. Thủ Đức ngày 12-7-2014.

7. Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Tome I và Tome II, SAIGON, Imprimerie Rey,Curiol &Cie, 4 Rue d’Adran, 1895.

8. Nguyễn Sinh Duy, “Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký”, Nxb. Nam Sơn, Sài Gòn, 1975.

9. Nguyễn Văn Kiệm (Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo), Sự Du Nhập Của Đạo Thiên Chúa Giáo Vào Việt Nam Từ Thế Kỷ XVII Đến Thế Kỷ XIX, Hội KHLSVN, Hà Nội, 2001.

10. Nguyễn Văn Trung, Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại, Nxb. Nam Sơn, Sài Gòn, 1963.

11. Nguyen Xuan Tho, Histoire de la Pénétration Francaise Au Viet Nam (1858-1897), Giáo hội Phật giáo Linh Sơn Thế Giới, Trung Tâm Văn Hóa Linh Sơn 98-847, ILEE ST., AIEA, HI 96701, Tel : 808-488-3425.

12. Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897), Nxb. Hồng Đức, TP HCM 2016.

13. Nhiều tác giả, A. De Rhodes – Người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và Chữ Quốc Ngữ, Giao Điểm, Hoa Kỳ, 1998.

14. Phan Phát Huồn C. SS.R, Việt Nam Giáo Sử,  Quyển I (1533-1933), In lần thứ hai, Copyright, 1965 By CỨU THẾ TÙNG THƯ - SAIGÒN.

15. Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Sudestasie, Paris 1978.

16. Trên 35 tác giả, Từ Chùa Báo Thiên Đến Tòa Khâm Sứ, Giaodiemonline.com và Sachhiem.net, 4-2006.

17. Võ Long Tê, Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam, Nxb. Tư Duy, Sài Gòn, 1965.

18. Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung Hoa, Ban KHXH Thành ủy TP HCM, 1990./.

(1) Hội thảo HTKH Mừng 400 Dòng Tên do Học viện Dòng tên Việt Nam tổ chức tại P. Linh Trung Q. Thủ Đức ngày 12-7-2014.

(2) Nguyễn Văn Trung , Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam – Thực Chất Và Huyền Thoại (Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn 1963, tr.116

(3) Võ Long Tê, Lịch Sử Văn học Công Giáo Việt Nam), Nxb. Tư Duy, Sài Gòn, 1965),

(4) Cao Huy Thuần, Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914), Nxb. Tôn Giáo, HN, 2003, tr. 442-443).

(5) Cửu Long Lê Trọng Văn, PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ, TUYỂN TẬP,  Hoa Kỳ, 1996, tr.161-162.
 =====
Dưới đây là Thư ngỏ của ông Nguyễn Đăng Hưng

ÔNG NGUYỄN ĐẮC XUÂN, NẾU NHẦM LẪN THÌ XIN LỖI VÀ IM LẶNG! - Nguyễn Đăng Hưng
Thưa ông Nguyễn Đắc Xuân.

Xem xét lý lịch khoa học và số lượng công trình nghiên cứu về Huế của ông, tôi xin giữ lòng kính trọng với những luận điểm, tư liệu đã và sẽ được lịch sử xem xét là đúng.
.
Nhưng riêng chuyện ông định “lột” bỏ tên đường dính đến Giáo sỹ Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina ở Đà Nẵng , là những người đã tạo ra chữ Quốc ngữ thì ông và những đồng chí của ông trong vụ này đã nhầm lẫn.

Tôi xin nêu 04 luận điểm của tôi, cũng là nhận thức của tôi về “tên đường” để dư luận, công luận và các ông cùng trao đổi.

1.Tên đường là một loại tín hiệu.
Nhiều nước có những con đường cực kỳ hoành tráng, họ chỉ đánh số 1, 2.3 v.v…
Khi đánh, khi đọc, không ai nghĩ ông Một, ông Hai hơn hoặc kém ông Ba cả. Nó chỉ là tín hiệu.
Do đó, cách hiểu đặt tên đường là “Tôn vinh” như ở ta, chỉ đúng trong một số trường hợp. Tuyệt nhiên, nó không mặc định sự vinh quang hay các định tính, định lượng, định danh mang tính phổ quát hay là một nguyên tắc khác.
Trong trường hợp Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina việc này đã có các diễn đàn, các văn bản lịch sử ghi nhận minh tường rồi.
Tên đặt trên đường trong trường hợp này, hoặc rất, rất nhiều trường hợp khác có thể có ý nghĩa lớn lao nhưng có ý nghĩa khắc họa một dấu nhấn lịch sử.
.
Việc Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina truyền bá, phát triển chữ Quốc ngữ trước hết là một điểm nhấn lớn trong lịch sử, văn hóa dân tộc này, nó có tư cách như một công cụ mạnh để góp phần đẩy đất nước này thoát sự nô dịch của một ngàn năm bắc thuộc thì rất đáng “Đánh dấu”. Chuyện không có gì mà ầm ĩ cả.
.
2. Nếu xét thấy việc đặt tên đường sai hoặc không thỏa đáng theo quan điểm lịch sử, tôi sẽ cung cấp cho ông đủ 500 tên đường hiện tồn tại trong danh bạ hành chính các đô thị Việt Nam, trong đó có những cái tên mà tôi đến Ban tuyên giáo quận, tỉnh hỏi, không ai biết là gì cả ?.
.
Với góc nhìn của ông, từng ấy tư liệu, các ông làm hết đời không hết việc.
Trong những việc làm đó, ông sẽ thấy nổi lên những cái tên cực kỳ vô lý, những cái tên vô nghĩa, những cái tên sớm muộn cũng bị lịch sử văn minh loại bỏ vì kiểu “Được làm vua thua làm giặc” khá lôm côm và phiến diện hiện nay.
.
3. Về quan điểm “Công, tội”.
Hãy ngước nhìn lại trước thời Pháp thuộc với một bề dày lịch sử cả ngàn năm u mê tăm tối trong sự nô dịch, trong cái văn hóa Tàu đời cũ để có một nhìn nhận tổng quan, thấu đáo và khái lượng thời kỳ sau Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina.
Thật không hàm hồ, khỏi tranh cãi khi thấy hơn trăm năm Pháp thuộc, với văn hóa tây phương, tinh thần dân chủ tây phương, chữ viết quốc ngữ du nhập từ tây phương thì dân tộc này mới có ngày nay.
Cần biết trong các chính phủ Nam, Bắc Việt Nam sau thời Nguyễn, là một thế hệ cầm quyền có nhiều cố gắng cải biến phương thức sinh sống, tiếp cận với thế giới văn minh thì ảnh hưởng của tây học chắc chắn trên 70%.
Từ đây, tôi nhìn nhận, không những Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina mà ngay cả những chiến binh đội quân xâm lược Pháp khi tràn vào Việt Nam, cũng có cả “Công” và “Tội”.
.
Lịch sử không bao giờ quên điều đó.
.
Quên “tội” thì là đánh mất trí tuệ, đánh mất lương tâm.
.
Nhưng quên “công” thì là đánh mất lương tri.
.
Đừng quên điều đó. Nếu cố tình quên, là ông tự sát luôn tên tuổi mình.
.
4. Nhân hòa.
Hãy nhìn vào một vài hiện tượng này:

Trong những giao lưu giữa người VN với những quân nhân Hoa Kỳ đã tham chiến tại Việt Nam, đã nhằm thẳng vào những nhân mạng Việt Nam để xiết cò có cảnh này: họ bắt tay với ta, họ đem đến cho chúng ta nhật kỳ Đặng Thùy Trâm, họ giúp chúng ta khai quật những phần mộ liệt sỹ ngay tại Biên Hòa, họ giúp chúng ta tài lực để góp phần tái thiết đất nước, ta vẫn ôm họ vào lòng trong một vòng tay lớn.
.
Có cả thơ, nhạc, nước mắt và hạnh phúc trong những vòng tay ôm đó.
.
Khi làm việc này, không phải ta vô ơn, ta quay lưng với đồng đội, đồng bào đã mất mát đau thương mà chính là ta thể hiện một ngưỡng văn hóa cao cả, chuẩn mực: công ra công, tội ra tội.
Nếu biết rõ “Công” và “Tội” (tất nhiên theo những luận điểm riêng, cần được thẩm trắc bằng lịch sử) để có một cái nhìn rộng dài, thỏa đáng thì đó là tầm vóc của bậc thức giả đáng kính.
Còn nếu khuôn bó nhận thức trong thiên kiến, trong những giới hạn của hận thù thì ta hãy còn ở một vùng tù túng đáng thương.
.
Tôi yêu mến vô cùng một câu cách ngôn:
“Biết một là kiến thức, biết hai là kiến thức , biết nhiều hơn hai là văn hóa!.”
.
Ông Nguyễn Đắc Xuân và mười hai ông kễnh khác, đồng tâm đồng chí với ông, có lẽ thiếu chút này chăng?.
.
Tái bút: Nếu báo chí nào dùng lại, nếu muốn, có thể lược bỏ chữ “ông kễnh” mà thay vào đó chữ gì, tùy.
.
Kính nhờ bạn đọc chuyển stt này tới 12 sứ quân văn hóa có trong danh sách của báo Lao Động có tên những vị muốn xóa tên các Giáo sỹ bên trang của nhà báo Lê Thanh Phong

Nguyễn Đăng Hưng

17 nhận xét:

  1. Cựu Chiến binh21:11 30 tháng 12, 2019

    Đọc hết cả 2 Thư ngỏ, một của ông Nguyễn Đắc Xuân và một của ông Nguyễn Đăng Hưng mới thấy
    1. Ông Nguyễn Đắc Xuân như một vị giáo sư khả kính giảng giải chân tình cho một trò hư Nguyễn Đăng Hưng.
    2. Ông Nguyễn Đăng Hưng đúng là phường mất dạy, xã hội đen khi ông ta dùng từ ngữ như dưới đây.
    ---
    "Ông Nguyễn Đắc Xuân và mười hai ông kễnh khác, đồng tâm đồng chí với ông, có lẽ thiếu chút này chăng?.
    .
    Tái bút: Nếu báo chí nào dùng lại, nếu muốn, có thể lược bỏ chữ “ông kễnh” mà thay vào đó chữ gì, tùy."


    Phường mất dạy, xã hội đen thì luôn là những kẻ thiếu chữ nhưng thừa sự mất dạy!

    Trả lờiXóa
  2. Nhận xét này đã bị tác giả xóa.

    Trả lờiXóa
  3. Nhiều người già cả nhưng vẫn rất thông tuệ và sáng suốt, đáng cho người trẻ nễ phục, kính trọng. Ông Nguyễn Đăng Hưng thì, đáng tiếc...!!! Những cái gọi là luận điểm của ông thật lôi thôi và đầy sơ hở. Thảo nào bác NGuyễn Đắc Xuân không buồn đụng đến chúng!
    Ông ấy, NĐH, cũng cho thấy một "hiểu biết" về lịch sử VN mà mình cứ ngỡ chỉ người kém học trong các xóm đạo mới có, thể hiện qua câu này:
    "Hãy nhìn lại trước thời Pháp thuộc với một bề dày lịch sử cả ngàn năm u mê tăm tối trong sự nô dịch, trong cái văn hóa Tàu đời cũ để có một nhìn nhận tổng quan, thấu đáo và khái lượng thời kỳ sau Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina."
    Nhiều kẻ muốn xem, hoặc bị nhồi sọ để xem, lịch sử của VN trước thời Pháp thuộc chỉ toàn một màu xám xịt ảm đạm... để tự trấn an/hoặc trấn an lẫn nhau, rằng sự có mặt ở VN của tôn giáo mà họ tin theo vv. là chính đáng. Nhưng một Nguyễn Đăng Hưng, nhà khoa học, mà cũng ấu trĩ, ngớ ngẩn như thế, thì đầu óc của ông chắc là có vấn đề rồi!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Nguyễn Đăng Hưng thì rõ ràng là phản động rồi chứ ko phải vô tình nữa. Ông ta thờ Pháp, thờ Mỹ. Tương tự như tên phản động San vẩu với câu "Đánh đổi 2 nền văn minh của nhân loại, nay Nguyễn Đăng Hưng viết
      "3. Về quan điểm “Công, tội”.
      Hãy ngước nhìn lại trước thời Pháp thuộc với một bề dày lịch sử cả ngàn năm u mê tăm tối trong sự nô dịch, trong cái văn hóa Tàu đời cũ để có một nhìn nhận tổng quan, thấu đáo và khái lượng thời kỳ sau Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina.
      Thật không hàm hồ, khỏi tranh cãi khi thấy hơn trăm năm Pháp thuộc, với văn hóa tây phương, tinh thần dân chủ tây phương, chữ viết quốc ngữ du nhập từ tây phương thì dân tộc này mới có ngày nay.
      Cần biết trong các chính phủ Nam, Bắc Việt Nam sau thời Nguyễn, là một thế hệ cầm quyền có nhiều cố gắng cải biến phương thức sinh sống, tiếp cận với thế giới văn minh thì ảnh hưởng của tây học chắc chắn trên 70%.
      Từ đây, tôi nhìn nhận, không những Alexandre de Rhodes và Francisco De Pina mà ngay cả những chiến binh đội quân xâm lược Pháp khi tràn vào Việt Nam, cũng có cả “Công” và “Tội”.

      Xóa
  4. Phan Trí Đỉnh cùng đồng bạn rận bọ

    Lời dẫn, Phản ứng của cộng đồng facebook xung quanh cuốn sách "Gạc Ma- vòng tròn bất tử" ngày càng dữ dội, chiếc mặt nạ giả tạo mà họ đang đeo rằng làm cuốn Gạc Ma - VTBT để tri ân các anh hùng liệt sĩ, để giáo dục thế hệ trẻ yêu từng tấc đất Tổ quốc bla bla...Cộng đồng ngày càng hiểu ra cái sự thật mà những người làm sách đang rắp tâm thực hiện là “BÀI TRUNG, PHÒ MỸ, VIẾT LẠI SỬ, DỰNG CỜ VÀNG, HẠ CỜ ĐỎ.”
    Trước tình hình trên, những người làm sách cầu cứu đồng bọn là ông Phan Trí Đỉnh.
    Đến lượt mình, Phan Trí Đỉnh lại bố láo đang nhét chữ vào mồm ông Lê Đăng Doanh nói láo về việc ông Nguyễn Cơ Thạch chất vấn ông Lê Đức Anh và ông Lê Đức Anh nhận mình là người ra lệnh không được nổ súng!
    Bác Nguyễn Phê nhận xét chính xác “Mấy lão này chỉ thẩm du, bao bọc lẫn nhau chứ không hề có tư liệu, bằng chứng nào về việc này. Nói không có sách mà mách không có chứng.
    Thứ nhất, Những người bình thường hẳn phải biết, ông Nguyễn Cơ Thạch- nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Ông Thạch là cha đẻ của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đương nhiệm) là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Vậy thì chuyện “đập bàn đập ghế”, quát tháo người đồng cấp của ông Thạch giữa cuộc họp của Bộ Chính trị là chuyện không thể có.
    Thứ hai, Chiến dịch CQ-88 là một chiến dịch cực lớn, cực kỳ quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh khi đó Việt Nam đang cực kỳ khó khăn, “tứ bề thọ địch”. Chính vì vậy Chủ trương của Chiến dịch CQ-88 dứt khoát phải được xem xét, thông qua ở cấp cao nhất Đất nước là Bộ Chính trị với sự tham gia của ông Nguyễn Cơ Thạch chứ không thể là một quyết định của cá nhân ông Lê Đức Anh- khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng.
    Vậy tại sao ông Phan Trí Đỉnh lại có thể “nhét chữ vào mồm ông Lê Đăng Doanh” được? Bởi vì ông Lê Đăng Doanh lâu nay đã bị rận hóa. Cộng đồng mạng hẳn không còn lạ gì cái tên Lê Đăng Doanh nữa, phải không? Ông này “tuần chay nào cũng có nước mắt”. Ông Doanh đàn đúm với đồng bạn rận bọ như Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Đình Cống, Chu Hảo, Tương Lai, tức Nguyễn Phước Tương, Nguyễn Đăng Hưng, Nguyễn Trung… Ông Doanh từng Ký tên đòi thả “Em bé cờ vàng Nguyễn Phương Uyên”, ký tên đòi “Bạch hóa mật ước Thành Đô”, "Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992"…
    Ngày 9.12.2015, ông Lê Đăng Doanh cùng với nhóm người trên đã gửi một bức thư ngỏ đến Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội lần thứ XII và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Bức thư đề nghị "đổi tên đảng (không gọi là Đảng Cộng sản); đổi tên nước (không gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa); trả lại tự do cho những “tù nhân lương tâm” bị giam giữ; chấm dứt sự trấn áp và ngăn chặn nhân dân thực hiện quyền tự do dân chủ theo Hiến pháp"… Đồng thời họ khẳng định bậy bạ, rằng "Thực tiễn của nước ta cũng như trải nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rõ sai lầm và thất bại của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin".
    Về ông Phan Trí Đỉnh, xưa nay cộng đồng ít được biết tới.
    Vậy Phan Trí Đỉnh là ai?
    Google.tienlang trên fb với ông Phan Trí Đỉnh.

    Hãy xem để vạch mặt Phan Trí Đỉnh
    https://ar-ar.facebook.com/thuongdancom/posts/1962202157404345/

    Trả lờiXóa
  5. Đặng Văn Lâm00:25 31 tháng 12, 2019

    Nguyễn Đăng Hưng ngoài các hành vi chống cộng và xúi bậy hiến pháp, góp ý bậy về thể chế, đòi hủy bỏ CN Cộng Sản thì còn nhiều quan điểm lệch lạc về Hoàng Sa, "hòa giải", lật sử, đòi vinh danh tên đồ tể Bob Kerrey, chửi bới xúc xiểm những người phản đối Bob Kerrey giống như những gì đã làm đối với những người phản đối Đắc Lộ hiện tại, viếng mộ Ngô Đình Diệm, hay phát ngôn và giật tít FB ủng hộ những kẻ tội phạm, rất nhiều cái nữa. Hài hước là ông này có vẻ bài xích đạo Phật nhưng lại ủng hộ nghệ sỹ hài Thành Lộc xúc phạm Bác Hồ và cho rằng không thể đem Bác so sánh ngang hàng với đức Phật Thích Ca, cho đó là phạm thượng. Ông ta comment và like tít của Thành Lộc. Như thế cho thấy là bọn này bài bác Cụ Hồ chứ không phải là vì sùng bái Đức Phật.

    Đến giờ tôi cũng không hiểu vì sao có những kẻ như những tên Sơn và ông Hưng này, tên Sơn thì cố ý vi phạm, còn ông Hưng này thì dù vô tình hay vì già lú thì cũng vô hình trung đã tiếp tay cho các nhóm chống phá, phá hoại đất nước này.

    So với Việt kiều Nga người giúp đỡ VN thì Việt kiều Pháp và Việt kiều Mỹ những kẻ thù xâm lược từng xâm phạm chiếm đóng VN thì chính những người như ông Nguyễn Đăng Hưng càng làm xấu hình ảnh của cộng đồng "tỵ nạn", những kẻ muốn được ăn bám hưởng ké nền kinh tế phát triển nhưng vẫn khoác vào mình chiếc áo "tỵ nạn chính trị" để lên mặt chém gió với con cháu cho đỡ tủi.

    Mọi người hãy xen MV này: https://www.youtube.com/watch?v=waPxIE2B8FQ

    Để thấy quan hệ 2 dân tộc, 2 đất nước và tình cảm hữu nghị truyền thống Việt Nga là như thế nào. Đây là bài hát rất cảm động ra đời trong bối cảnh cả nước này đang căng ra 2 đầu để chống giặc Đặng Tiểu Bình phía Bắc và giặc Poll Pot phía Nam.

    Trả lờiXóa
  6. Đặng Văn Lâm00:31 31 tháng 12, 2019

    Ngày nay đã hòa giải hết nhưng Mỹ vẫn tìm cách thay đổi chế độ thông qua chiến dịch Diễn biến hòa bình, chiến lược xoay trục để quay lại châu Á Thái Bình Dương với những chương trình kích động chia rẽ, bạo loạn đường phố, chia rẽ đoàn kết hữu nghị quốc tế, láng giềng. Trong khi đó TQ vì địa vị chính trị vẫn không chịu từ bỏ lập trường của họ về "đường chữ U" và Biển Đông. Còn phe chống Hun Sen vẫn điên cuồng dùng lá bài "chống Việt Nam xâm lược" như 1 át chủ bài để giành phiếu chống Hun Sen. Họ nhai lại các quan điểm của Pol Pot trước đây về những sự bành trướng mở cõi của các vương triều phong kiến VN, các chúa Nguyễn và triều nhà nguyễn dưới thời MM, cắt tỉa chọn lọc các vấn đề lịch sử này để kích động chủ nghĩa bài Việt ở Campuchia nhằm mục đích tranh quyền giống như cách mà các nhóm lợi ích làm ở VN đối với TQ.

    2 tên tuổi Việt kiều lớn nhất về đá bóng trong nước trong lịch sử đến nay thì 1 là Lee Nguyễn từ nước Mỹ và 1 là Đặng văn Lâm từ nước Nga. Hãy nhìn xem Lee Nguyễn kiêu ngạo hợm hĩnh và scandal như thế nào, gái gú như thế nào. Hãy xem nhân cách làm người của Đặng văn Lâm như thế nào, gia đình như thế nào. Thành công của họ ở bóng đá VN và sự đóng góp của họ cho đội tuyển VN là như nào. Trong khi xuất phát điểm của Lee Nguyễn sáng chói hơn Lâm Tây rất nhiều, từng là thành viên của U18 quốc gia Mỹ, thường xuyên đá ở giải hạng 1 Mỹ và ghi bàn rất nhiều cho màu áo Mỹ, trong khi Lâm còn chưa bao giờ lên được hạng 1 ở Nga League. Lee Nguyễn về đá cho HAGL thì lại vô cùng nhợt nhạt qua loa. Điều làm người hâm mộ nói chung có cái nhìn rất phản cảm và khác nhau giữa Việt kiều 2 nước nói chung, đọc các comment Youtube là thấy.

    Trả lờiXóa
  7. Đặng Văn Lâm00:37 31 tháng 12, 2019

    Hành vi của ông Hưng và chính quyền Đà nẵng đã gây tổn thương cho không chỉ đồng bào Phật Tử mà còn những người lương khác, nhất là những người có gia đình đã bị giặc Pháp làm hại. Vấn đề ở đây không phải là ghét bỏ gì Kito giáo hay hành động vì động cơ tôn giáo, giáo lý Phật môn dạy không sân hận vấn vương nhưng trắng đen phải trái thì phải rõ ràng, đạo lý phải được bảo vệ tương đương với pháp lý vậy, thậm chí đạo lý nhiều khì còn quan trọng hơn cả pháp lý, vì pháp luật thì lúc này lúc khác có thể thay đổi theo năm, còn đạo lý dân tộc thì tồn tại ngàn năm.

    Mẹ của Lâm Tây cũng là người Kito giáo nên tôi không có lý do gì ghét bỏ tất cả những ai theo tôn giáo này. Có rất nhiều người lành người tốt đã theo tôn giáo đó, rất nhiều linh mục yêu nước đã đi theo Bác làm nên 1 điện biên chấn động địa cầu, 1 Điện Biên trên không và Mĩ cút ngụy nhào. Tuy nhiên, ở bức tranh vĩ mô thì cần nhận biết bản chất về sự ra đời của Kito giáo và các tông giáo ở Tây nói chung, đó là khía cạnh tôn giáo mà ông Các Mác đã nghiên cứu rất kỹ, sau đó tìm hiểu lịch sử và quan sát kỹ các hành động chính trị và các sự cấu kết với nhà cầm quyền của nó trong việc giành quyền thống trị, bành trướng quyền lực, vai trò Vatican, vai trò của nó trong việc làm 1 lợi khí cho nhà cầm quyền thực dân đế quốc làm đối quân thứ 5 tiên phong để họ xâm lược và nô dịch biến dân thuộc địa thành nô lệ để họ bần cùng hóa. Hơn 90% dân thời Bác là không biết chữ, số còn lại chủ yếu là chữ Nho và chữ Pháp, thế mà họ dám chém Đắc Lộ là sáng tổ của chữ Việt, thậm trí nhiều chiên chuối còn ngộ nhận rất ngu dốt giữa "tiếng" và "chữ", hoàn toàn không biết phân biệt. Như quá nhiều người làm khoa học và các nhà sư uy tín đã phân tích, Đắc Lộ chỉ là người "mã hóa", Latin hóa tiếng Việt, còn trước đó chữ Việt chính là chữ Nho (chữ Hán Nôm), chữ Hán ngàn năm qua chính là chữ quốc ngữ, sau đó người ta dùng chữ Nôm để viết lại các tiếng thuần Việt mà chữ Hán không viết được, nên nhiều tác phẩm từ thời nhà Lê trở đi mới thấy hỗn hợp cả Hán tự và chữ nôm là như thế. Các nước dùng chữ gốc Hán như TQ (giản thể và phồn thể), chữ Hàn hay chữ Nhật cũng đều cùng dạng như chữ Nôm VN, họ vẫn phát triển tân tiến đấy thôi. Trong khi bao nhiêu nước không chỉ dùng chữ cái Latinh mà còn dùng luôn cả tiếng Anh hoặc nửa tiếng Anh, đem tiếng Anh vào hiến pháp nhưng đất nước xã hội không ra gì cả, rất nhiều rất nhiều. Hoặc như Ấn Độ cả nước nói tiếng Anh và tiếng Ấn xen kẽ và dân số sắp vượt qua TQ nhưng cũng vẫn không phát triển bằng TQ. Vì vậy rõ ràng nếu cho rằng mẫu tự ABC Latinh và tiếng Anh là tiên đề của phát triển thì đó là ngụy biện sai sự thật. Nó đúng là giúp ta hội nhập hòa nhập tốt hơn nhanh hơn về mặt ngôn ngữ và sử dụng các công cụ khoa học công nghệ, nhưng nếu xét công tội thì tội của Đắc Lộ vẫn áp đảo "công". Huống gì cái "công" đó không phải là khó làm, cũng không phải vì mục đích tốt lành, mà vì mục đích đồng hóa cai trị và truyền giáo, bành trướng tôn giáo và xâm lăng văn hóa. Nếu bảo Đắc Lộ có công thì Nhâm Diên, Tích Quang, những kẻ thái thú của Trung Hoa ngày xưa đô hộ dân Việt cũng có công và nên đặt tên đường để ăn quả nhớ kẻ trồng cây như Nguyễn Đăng Hưng đã ngụy luận.

    Người có công với chữ Việt ngày nay là Bác Hồ và cách mạng VN, người CS ở VN, những nhà cách mạng kháng Pháp trong thời Pháp thuộc, cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du. Những người này đã phát triển chữ quốc ngữ để dễ bề liên lạc đánh Pháp trong tầng lớp sỹ phu trí thức. Sau đó trong phong trào diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm thì Bác và CS mới cho người dân đi học chữ, mở các lớp bình dân học vụ, từ đó mới truyền bá quốc ngữ và toàn dân mới biết đọc. Như thế công của chữ Việt ABC này là của cách mạng và Bác Hồ chứ không phải của mấy ông Kito từ Âu Mỹ.

    Trả lờiXóa
  8. Giáo xư, tiến sĩ, “Nhà khoa học” Nguyễn Đăng Hưng đáng sách dép cho nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân

    Trả lờiXóa
  9. Nguyễn Đức Kiên07:30 31 tháng 12, 2019

    Theo tôi, cũng nên cảm ơn ông rận Nguyễn Đăng Hưng vì ông ta đã khới lại chuyện Đắc Lộ.
    Lý do cảm ơn là
    1. Vì có Nguyễn Đăng Hưng nên Google.tienlang mới có loạt bài chất lượng về sự thật Đắc Lộ như liệt kê trên kia.
    2. Vì có Nguyễn Đăng Hưng nên chúng ta mới biết có rận chấy trong làng báo chính thống như Tuổi trẻ, Lao động, Vnexpress...
    3. Vì có Nguyễn Đăng Hưng nên công chúng mới biết đến sự thật về oongVox Văn Kiệt
    ĐẶT TÊN ĐƯỜNG ALEXANDRE DE RHODES Ở TP HỒ CHÍ MINH- ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐÃ “LÀM TRỘM” TRONG ĐÊM RA SAO?
    https://googletienlang2014.blogspot.com/2019/11/at-ten-uong-alexandre-de-rhodes-o-tp-ho.html

    4. Vì có Nguyễn Đăng Hưng nên công chúng mới biết sự thật về cụ Nguyễn Văn Tố và Hội Truyền bá chữ quốc ngữ
    VÌ ALEXANDRE DE RHODES MÀ PGS-TS PHẠM MAI HÙNG XUYÊN TẠC VỀ CỤ NGUYỄN VĂN TỐ VÀ HỘI TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ
    https://googletienlang2014.blogspot.com/2019/12/vi-alexandre-de-rhodes-ma-pgs-ts-pham.html
    Vân vân....

    Trả lờiXóa
  10. LẠC ĐỀ NHƯNG ĐÚNG THỜI SỰ:

    Tôi có viết bài "CHỮ KÝ VÀ TRÁCH NHIÊM" đăng trên Tạp chí STXDĐ TP HCM (tháng 3-2014). Hiện nay có nhiều người làm sai từ chuyện ký tá, nên bị ra tòa, thụ án...Vậy nên xin ghi lại ở đây để bạn đọc xem chơi.

    CHỮ KÝ VÀ TRÁCH NHIỆM

    Người cán bộ được Đảng, Nhà nước bổ nhiệm giao cho chức vụ, khi nhậm chức, việc trước tiên là lấy chữ ký "mẫu" để thông báo đến các địa phương, các cơ quan có quan hệ công tác. Từ đó, người thủ trưởng (hoặc thủ phó) này bắt đầu ký các văn bản theo thẩm quyền.
    Chữ ký thể hiện cho một quyết định, hoặc ghi nhận một trách nhiệm của tập thể hoặc cá nhân về một vấn đề, một sự việc. Do vậy, điều vô cùng quan trọng là quá trình ra quyết định. Quyết định đúng làm tăng giá trị, quyết định sai làm giảm, thậm chí mất uy tín người có chữ ký đó. Dù đó là quyết định tập thể hay cá nhân thì người ký vẫn phải chịu trách nhiệm trước tiên.
    Những chữ ký không để lại hậu quả, khi nó ra được quyết định đúng với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phù hợp với thực tế cuộc sống, vì lợi ích chung của nhân dân. Đó là tính "hợp pháp" và "hợp lý" của một văn bản. Nhưng, việc "vận hành" guồng máy không phải lúc nào cũng trơn tru, giúp người có trách nhiệm ra quyết định đúng đắn cả. Không ít trường hợp ra quyết định sai, người ký phải lãnh trách nhiệm, tạm phân ra các trường hợp:

    Trường hợp thứ nhất: có thể do thiếu thông tin hoặc xử lý thông tin không tốt, không sâu sát thực tế, bị bệnh quan liêu gây ra. Nói chung là do trình độ, năng lực yếu kém mà ra quyết định sai. Trường hợp này đã xảy ra nơi này, nơi khác. Nhưng thật đáng trách với những người khi được giao chức vụ thì vui mừng, hồ hởi. Khi làm sai, bị kiểm điểm thì nói do trình độ hạn chế, tìm cách đổ lỗi
    cho khách quan, này nọ để chống chế hòng làm giảm nhẹ trách nhiệm. Phải chi họ từ chối không nhận chức vụ để khỏi gây hậu quả.

    Trường hợp thứ hai: những giấy tờ thuộc "thủ tục hành chính" được người giúp việc làm sẵn, trình ký. Hồ sơ nhiều, dồn ứ, thời gian ít, người ký tin cấp dưới...thiếu kiểm tra. Khi phát hiện sai thì đã trót rồi.
    Do đó, tùy tính chất quan trọng thế nào, người có trách nhiệm phải đọc kỹ rồi mới ký.
    Trường hợp thứ ba: do nể nang mà ký. Trường hợp này không nhiều, nhưng có xảy ra. Tôi có quen một đồng chí trưởng phòng, bí thư chi bộ một sở ở TP HCM. Do nể nhau, cũng vì thân tình mà ký xác nhận sai nội dung và thẩm quyền trong hồ sơ cảm tình Đảng. Khi bị phát hiện, anh bị kỷ luật cảnh cáo và đưa ra khỏi diện quy hoạch phó giám đốc sở.
    Trường hợp thứ tư: do phẩm chất đạo đức người có quyền hạn sa sút, dùng chữ ký của mình để làm điều sai trái. Tùy theo cương vị mỗi người, tính chất, mức độ sự việc lớn nhỏ mà tác hại nặng nhẹ khác nhau. Điều này không chỉ xảy ra trong lĩnh vưc kinh tế mà ở cả các lĩnh vực khác. Những sai phạm đó không phải dễ phát hiện ngay để ngăn chặn, khi "thấy" thì khối "u nhọt" đã quá to. Cũng không ít vụ việc chưa lộ diện vì được "che đậy" quá kỹ.
    Trường hợp này là đáng lo ngại nhất.

    Để ngăn ngửa những "chữ ký" có hại, công việc vô cùng quan trọng là lựa chọn người (công tác cán bộ). Cần phải xem xét, đánh giá một con người hết sức khách quan, vô tư, hiểu đúng, có niềm tin ở họ khi trao chức vụ.
    Đề nghị nên chú trọng tiêu chuẩn chọn người có trách nhiêm cao, làm việc thận trọng, biết cân nhắc đắn đo trước một sự việc: nên hay không nên. Ký có lợi gì, không ký có hại gì cho lợi ích chung và ngược lại - chứ không vì tư lợi...Và cũng không được thiếu yếu tố tập thể, cơ quan cấp trên hay cơ quan có thẩm quyền giám sát, "nhòm ngó" để ngăn chặn kịp thời.

    Ông cha ta xưa có câu "bút sa, gà chết". Ngày nay, bút sa không phải "gà chết", mà là "người chết"!

    Vì vậy, hãy cẩn trọng trước khi hạ bút ký một văn bản quan trọng. Phải có trách nhiệm cao trong việc sử dụng chữ ký của mình, đối với nhiệm vụ chung và cả việc riêng.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Khổ lắm, cụ Thép hay lạc đề vậy nhỉ?
      Đang theo dõi về Đắc Lộ, về ông Đắc Xuân, Đăng Hưng, cụ đưa cái chuyện chữ ký vào đây làm gì?
      Tôi đề nghị chủ nhà nhắc nhở và xóa ý kiến trên đi!

      Xóa
    2. Chà chà, cụ Thép thâm sâu quá!
      Tôi hiểu ý cụ muốn nói: ông Hưng hay ông Xuân nói, suy cho cùng cũng là "chữ ký" kèm theo...Chữ ký ông Xuân thì đúng, chữ ký ông Hưng thì sai, bậy bạ, bát nháo!
      "Bút sa, gà chết", đó là ngày xưa.
      Ngày nay "bút sa, người chết", ở đây vẫn nhìn thấy ai là "người chết", rõ như ban ngày bạn nặc ơi!

      Xóa
    3. * Trong vườn chỉ có một loài hoa không đẹp bằng có chen thêm một bông hoa khác - sẽ lung linh hơn nhiều.
      * Ăn một món thường ngán tới cổ. Có thêm món khác sẽ thú vị, hấp dẫn hơn.
      * Đọc một thứ sao bằng có xen thứ khác vào sẽ hấp hơn, miễn là không phạm nội qui của trang nhà là được!
      * Ý kiến của người đọc thì ai cũng có quyền nói, viết những điều họ thích, không hạn chế nội dung; không ai bắt phải "đi" theo một đường như dắt bò vào chuồng!
      * Hãy thoái mái đi anh bạn nặc nhé!

      Xóa
  11. Chí lý!
    Hoan hô cụ Nguyễn Đắc Xuân!
    ---
    "1.1.- Anh đã cóp và sửa ý tưởng khắc ở khu lăng mộ cụ Phạn Quỳnh ở ấp Bình An, phường Trường An, TP Huế - địa điểm có dấu tích Cung điện Đan Dương thân thiết của tôi trên 1/3 thế kỷ qua. Nguyên văn của cụ Phạm Quỳnh trên bia đá là: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

    Bia đá “Tiếng ta còn ...” ở lăng mộ cụ Phạm Quỳnh
    Anh sửa lại “CHỮ QUỐC NGỮ CÒN, TIẾNG VIỆT CÒN, NƯỚC VIỆT NAM CÒN” và khắc lên đá Non Nước đem qua dựng bên mộ linh mục Đắc Lộ ở Iran. Thực hiện việc làm nầy anh mắc hai lỗi trọng: 1. Lỗi ăn cắp ý tưởng của người khác sửa lại làm ý tưởng của anh; 2. Theo anh nước Việt Nam ngày nay còn là nhờ CQN của linh mục Đắc Lộ. Điều đó có nghĩa anh xóa hết công lao xương máu của bao thế hệ trường kỳ kháng chiến từ Ngày thất thủ Kinh đô vua Hàm Nghi xuất bôn với Phong trào cần vương (1885) cho đến ngày thông nhất đất nước (1975) –ròng rã suốt 90 năm. Người ngoại quốc đọc tấm bia làm ô nhục dân tộc VN đó họ sẽ nghĩ như thế nào? Với tư cách là môt công dân VN; tôi đề nghị anh nhờ người hủy tấm bia đá đó kẻo xấu hổ lắm;
    1.2.- Anh không phân biệt được “tiếng” và chữ viết. Có ai đó gọi tên anh, người học chữ Hán và chữ Nôm ghi ngay 登興, người học CQN ghi “Đăng Hưng”. Tiếng của một dân tộc không thay đổi, luôn tồn tại và phát triển, nó có âm điệu, có nhạc (nhất là tiếng VN), còn chữ chỉ là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản. Tiếng không thay đổi, chữ viết có thể thay đổi qua thời gian như chữ Hán, chữ Nôm, chữ CQN của ta vậy. Trong ngành bưu điện hay ngành truyền tin quân đội trước đây người ta còn dùng ký hiệu điện báo móoc (morse) nữa. Tiếng nói mới là tâm hồn dân tộc. Cả một kho tàng ca dao tục ngữ, dân ca khắp ba miền truyền khẩu qua bao đời nay có chữ chiếc gì đâu. Tôi không ngờ anh không phân biệt được hai lãnh vực “tiếng” và “chữ” nên mới đem Tình Ca của Phạm Duy “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…” ra hát bên mộ giáo sĩ Đắc Lộ - tác giả Tự điển Việt Bồ La. Con nít mới ra đời được nghe lời ru của mẹ từ ca dao, dân ca chứ làm gì có chuyện trẻ con còn nằm trong nôi đã biết CQN của linh mục Đắc Lộ của anh? Nếu Phạm Duy biết chuyện nầy sớm có lẽ nhạc sĩ không cho phép tôi đưa anh đến thăm Phạm Duy năm ấy."

    Các bạn chủ nhà và các bác, các bạn cho tôi hỏi xíu.
    Tay Nguyễn Đăng Hưng có phản hồi gì không?
    Mà phản hồi sao được!

    Trả lờiXóa
  12. Tranh luan voi GOOLE;TIENLANG(Lu ngu)thi cung tro thanh nguoi ngu nhu chung no.

    Trả lờiXóa