Thứ Ba, 19 tháng 10, 2021

CA NGỢI PHAN THANH GIẢN- PHAN HUY LÊ PHẢN BỘI QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI THẦY - VIỆN SĨ TRẦN HUY LIỆU

Giáo sư- Viện sĩ Trần Huy Liệu

Lời dẫn: Trước cách mạng, Trần Huy Liệu đã lập Cường Học thư xã (1927), một nhà xuất bản chuyên in và phát hành những cuốn sách giới thiệu các danh nhân lịch sử, thức tỉnh lòng yêu nước của đồng bào. Sau khi cách mạng thành công, Trần Huy Liệu trở thành người gây dựng nền móng và là trụ cột cho một nền sử học mới. Ông được giao thành lập và chỉ đạo Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa (1953), rồi kiêm Phó ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Viện trưởng Viện Sử học, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.

Ông từng nói “Muốn dựng nước và giữ nước thành công, mỗi người dân Việt Nam phải có được lòng tự tôn dân tộc, kết hợp với lòng yêu nhân loại. Muốn có lòng tự tôn dân tộc thì trước hết phải hiểu được sự sáng tạo của dân tộc ta, của nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất trải qua bao nhiêu đời nay... Học tập lịch sử dân tộc, địa lý của dân tộc, văn học của dân tộc chính là vũ khí để phát huy những tinh thần ấy”. Những tư tưởng ấy đã trở thành định hướng phát triển không chỉ của ba bộ môn Văn-Sử-Địa mà còn đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành tổ chức khoa học xã hội nhân văn của đất nước.        

Sau này, ông còn là Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Chủ tịch sáng lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ông không chỉ là người tập hợp và đào tạo đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu lịch sử mà còn là tác giả của hàng loạt những công trình sử học tiêu biểu. Tầm vóc và độ bền vững của những công trình này được khẳng định trên nền tảng sử liệu phong phú, đáng tin cậy, được viết bởi ngòi bút sắc sảo và tấm lòng tha thiết với truyền thống lịch sử dân tộc.        

Ông lần lượt cho ra đời ba tập Bộ Lịch sử 80 năm chống Pháp vào các năm 1956, 1959 và 1960. Đây là một bộ sách lịch sử thể hiện nhuần nhuyễn tư duy lý luận Mác xít, tư liệu lịch sử phong phú, độc đáo. Với công trình đầy tâm huyết này, ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 (năm 1996). Ngoài ra, còn phải kể đến những bộ sách lớn ông đã viết như “Sơ thảo sử cách mạng cận đại Việt Nam” (viết năm 1950-1951), bộ sách 12 tập “Tài liệu tham khảo lịch sử cận đại Việt Nam” (1954-1958) cùng hàng trăm bài viết khác.

Khi còn sống, ông Phan Huy Lê không ít lần tự nhận là học trò của Giáo sư- Viện sĩ Trần Huy Liệu. Thế nhưng cuối cùng, khi đã chiếm được ghế cao trong giới sử học VN,  Phan Huy Lê đã sổ toẹt vào chính người thầy đáng kính của mình. 

Số là, những năm 60 thế kỷ trước, giới sử học nước nhà đã có cuộc thảo luận công khai về nhân vật Phan Thanh Giản. Sau thời gian dài thảo luận công khai, dân chủ, bình đẳng, Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu đã có bài viết tổng kết cuộc thảo luận. Cách làm của giới sử học ngày đó rất khoa học, công khai, dân chủ, bình đẳng chứ không như cách làm của Phan Huy Lê và đồng bọn. Tiếng là tổ chức một số "Hội thảo khoa học" nhưng Phan Huy Lê chỉ mời một vài người cùng cánh hẩu cho đăng đàn rồi Lê Kết luận, bất chấp những phản đối của rất nhiều người khác. Trong khi Phan Huy Lê và đồng bọn không đưa ra được những phát hiện mới nào về nhân vật Phan Thanh Giản nhưng Lê vẫn kết luận sổ toẹt vào Kết luận của Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu. 

Dưới đây, Google.tienlang đăng lại bài của Giáo sư- Viện sĩ Trần Huy Liệu:

********

BÀI CỦA VIỆN SĨ TRẦN HUY LIỆU TỔNG KẾT CUỘC THẢO LUẬN VỀ PHAN THANH GIẢN

Trần Huy Liệu

Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan-Thanh-Giản 

Lời của Tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử: Cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn kế tiếp nhận được những bài của các bạn đọc gửi đến phê phán về Phan-thanh-Giản, nhưng những tài liệu và ý kiến cũng không có gì khác với những bài đã đăng. Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn đã sốt sắng tham gia cuộc khảo luận, đặc biệt là những ý kiến đều hầu như nhất trí cả. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cuộc bình luận về Phan-thanh-Giản đến đây là kết thúc và chúng tôi đăng bài sau đây của đồng chí Trần-huy-Liệu có tính cách như một bài tổng kết.

Nhân vật lịch sử, qua Hồ-quý-Ly, Nguyễn-trường-Tộ, Lưu-vĩnh-Phúc cho đến Phan-thanh-Giản, không lần nào bằng lần này, những bạn tham gia cuộc thảo luận, mặc dầu có những khía cạnh khác nhau, nhưng về căn bản đều nhất trí ở chỗ kết án tội nhân của lịch sử. Trong những bài mà chúng tôi nhận được, có bài đăng nguyên văn, có bài trích đăng và một số bài xin miễn đăng, nhưng nhiều tác giả đã có những dẫn chứng giống nhau và hòa chung một thứ tiếng cáo giác người đã đóng vai “tích cực” trong việc làm mất ba tỉnh miền Ðông Nam-kỳ và sau đó là ba tỉnh miền Tây Nam-kỳ. Ðiều đáng chú ý là: trong quá trình thảo luận, hai bạn Chương-Thâu và Ðặng-huy-Vận, trong chỗ không ngờ, đã trở nên “đối tượng” cho một loạt súng bắn vào chỉ vì hai bạn còn có chỗ chưa “dứt khoát” về tình cảm với họ Phan! Một điều nữa cũng đáng chú ý là: trong số người gửi bài tới tham gia thảo luận lên án Phan-thanh-Giản có đông đủ cả các bạn miền Bắc và miền Nam. Thì ra, nếu chúng ta xuất phát từ một lập trường giống nhau thì chúng ta sẽ đi tới một kết luận giống nhau. Cuộc thảo luận này đã chứng minh như vậy. 

Là một người viết bài cuối cùng, tôi còn phải nói gì thêm nữa? Tôi không muốn nhắc lại những tài liệu mà các bạn đã dẫn ra và những ý kiến mà các bạn đã phát biểu; mà qua cuộc thảo luận, tôi muốn đề ra một vài nét lớn trong những điểm nhận định chung. 

Ðiều thứ nhất mà chúng tôi nhận thấy là: Trong khi bình luận một nhân vật lịch sử nào, chúng ta phải đặt người ấy vào hoàn cảnh lịch sử lúc ấy. Chúng ta không đòi hỏi những người sống xa thời đại chúng ta, không cùng một giai cấp với chúng ta, cũng phải có một lập trường tư tưởng như chúng ta. Nhưng để đánh giá họ, chúng ta chỉ cần xem tư tưởng và hành động của họ có phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của đông đảo nhân dân đương thời không? Có theo chiều hướng tiến lên của thời đại không? Ðối với Phan-thanh-Giản hồi ấy, chúng ta không đòi Phan phải thoát ly ý-thức-hệ của giai cấp phong kiến. Nhưng trong khi những nhân sĩ yêu nước trong giai cấp phong kiến và đông đảo nhân dân kiên quyết đánh Tây để giữ lấy nước, thà chết không làm nô lệ thì Phan trước sau vẫn theo chiều hướng đầu hàng, từ ký nhượng ba tỉnh miền Ðông đến ký nhượng ba tỉnh miền Tây. Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân. Tuy vậy, trong số các bạn tham gia thảo luận, vẫn còn có bạn không phủ nhận tội lỗi của Phan, nhưng vẫn muốn “giảm nhẹ tội cho Phan một bậc” [1] . Trước tòa án lịch sử, vị “trạng sư bất đắc dĩ” ấy viện cớ rằng: chủ trương đầu hàng không phải riêng gì họ Phan, mà là cả giai cấp phong kiến nói chung, mà người đứng đầu là vua Tự-đức, cũng như Nam-kỳ và toàn bộ đất nước bị mất vào tay giặc Pháp còn vì nhiều duyên cớ khác, đâu phải chỉ vì mấy chữ ký của Phan-thanh-Giản. Vậy chúng ta có muốn kết án thì phải kết án giai cấp phong kiến mà thủ phạm phải là Tự-đức. Còn Phan-thanh-Giản chỉ là tòng phạm thôi. 

Lời bào chữa của vị “trạng sư” kể trên có lý không, có đứng vững được không? Chúng ta không phủ nhận giai cấp phong kiến nhà Nguyễn hồi ấy đã hết sứ mạng lịch sử và đương đi theo chiều hướng thỏa hiệp và đầu hàng. Nhưng một sự thực mà chúng ta không được phép chối cãi là: trên bước đường phân hóa, chính trong giai cấp phong kiến lúc ấy cũng còn có phái chủ chiến và phái chủ hòa (nghĩa là phái đầu hàng). Chưa nói đến sự cơ lúc ấy: giặc Pháp mới để chân đến Nam-kỳ, các tầng lớp nhân dân đương hăng hái đánh giặc cứu nước; mà ngay chính Tự-đức, một tên vua phải đứng “trước vành móng ngựa” về tội làm mất nước ta, cũng từ chỗ lưng chừng đến chỗ đầu hàng, chớ chưa phải đã can tâm dâng nước cho giặc ngay từ đầu. Nếu ngày nay, trước từng sự kiện lịch sử phải tìm ra trách nhiệm, cái gì cũng đổ chung cho giai cấp phong kiến theo lối “hầm bà là” cả, vậy thì thế nào để phân biệt những người yêu Tổ quốc, theo chính nghĩa, giết giặc cứu nước với những kẻ hàng giặc dâng nước cho giặc? Làm thế nào để phân biệt những người giữ thành chết theo thành như Nguyễn-tri-Phương, Hoàng-Diệu, Nguyễn-thúc-Nhận v.v... với những người dâng thành hiến đất cho giặc theo kiểu Phan-thanh-Giản? Không. Chưa nói đến bản án lịch sử muôn đời; dư luận nhân dân đương thời biểu hiện trong tám chữ đề cờ của dân quân Tân-an Gò-công mà thủ lĩnh là Trương-Ðịnh cũng đã rõ ràng lắm. Nó kết án giai cấp phong kiến mà triều đình Huế là đại diện đã “bỏ dân” và kẻ trực tiếp phụ trách là Phan-thanh-Giản, Lâm-duy-Hiệp đã ký nhượng đất nước cho giặc. Dư luận nhân dân rất sáng suốt cũng như bản án rất công minh. Nếu vị “trạng sư” nào còn muốn bào chữa cho một bị cáo đã bị bắt quả tang từ non một trăm năm trước thì chỉ là tốn công vô ích! 

Nói cùng mà nghe, ngay đến Tự-đức, một người đứng đầu trong hàng ghế bị cáo, đã có than: “Theo họ thì có nước như không, đã chịu nhục mà đời đời bị vạ...” và khi nghe tin Phan-thanh-Giản, Lâm-duy-Hiệp ký nhượng ba tỉnh miền Ðông, đã phải nói: “hai tên kia không những là tội nhân của bản triều, mà còn là tội nhân của thiên cổ”... Thì ra, trên bước đường đầu hàng của giai cấp phong kiến nói chung, Phan-thanh-Giản còn bước mau, bước trước hơn Tự-đức và trước dư luận phẫn khích của nhân dân, Tự-đức cũng không dám thốt ra những câu nói ngược lại ý chí của họ. Như vậy, trong giai đoạn đau thương của Tổ quốc, kẻ làm mất nước ta là bọn phong kiến đầu hàng mà đứng đầu là Tự-đức. Nhưng trước từng sự kiện lịch sử, mỗi người lại có trách nhiệm riêng tùy theo cương vị của mình. Vị trạng sư nào ngụy biện đến đâu cũng không thể lập luận hồ đồ, đem giai cấp phong kiến và Tự-đức làm cái “bung xung” để che giấu tội lỗi của Phan-thanh-Giản đã dâng toàn bộ lục tỉnh Nam-kỳ cho giặc được! 

Ðiều thứ hai mà chúng tôi nhận thấy là: trong khi quy định trách nhiệm của Phan-thanh-Giản trước lịch sử, chúng ta đã phân tích rõ ràng với những án từ phân minh. Tuy vậy, còn có người viện những đức tính liêm khiết của Phan ra để mong được “chiếu cố” và “thông cảm”. Cũng có người còn cho Phan là một nhà ái quốc và thức thời, chỉ vì thương dân, muốn tránh nạn binh đao nên đã chủ trương hòa hiếu với giặc. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại điều kiện chủ quan và khách quan bấy giờ để chứng minh rằng: nếu vua tôi nhà Nguyễn biết dựa vào nhân dân để kiên quyết kháng chiến thì nước ta hồi ấy sẽ không bị mất; tôi chỉ nhấn mạnh vào cái quan niệm về đạo đức tư cách của con người thế nào cho đúng. Những người có lòng chiếu cố đến Phan-thanh-Giản chỉ mới nhìn vào tư đức của ông mà không nhìn vào công đức của ông. Ở vào thời thế nước ta hồi ấy, mỗi người công dân còn có cái đạo đức nào cao hơn là yêu nước thù giặc, hy sinh quên mình, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trái lại, còn có cái gì xấu hơn là theo giặc, chống lại cách mạng, phản lại quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Ðối với Phan-thanh-Giản, công đức như thế là đã bại hoại rồi; mà công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể? Trong số các bạn tham gia thảo luận, có bạn còn viện những chứng cớ tỏ ra rằng ngay cả đến tư đức của ông cũng không có gì đảm bảo. Nói thế thôi. Ðiều này không quan trọng lắm. Chúng ta đánh giá con người của Phan không phải nhìn vào những đức tính thông thường, mà chính là nhìn vào tiêu chuẩn đối với dân, với nước của Phan. 

Ở đây còn một điểm phải trang trải nữa là Phan có yêu nước không? Những người thương Phan còn có cắt nghĩa rằng: Phan chủ trương sai lầm nhưng không phải không có lòng yêu nước. Thực ra, yêu nước không phải là một danh từ trừu tượng, mà phải biểu hiện một cách cụ thể. Trong lúc quân giặc bắt đầu dày xéo lên Tổ quốc, bao nhiêu văn thân nghĩa sĩ, hào lý cùng các tầng lớp nhân dân đều lao mình vào cuộc giết giặc cứu nước, bài phú “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh” vang lên, vậy mà riêng Phan-thanh-Giản ba lần dụ Trương-Ðịnh bãi binh, bốn lần làm môi giới cho Pháp đưa thư của giặc cho Trương và khuyên nhân dân không nên “bội nghịch” với giặc, vậy chúng ta có thể tặng hai chữ yêu nước cho Phan cả về mặt khách quan lẫn chủ quan được không? Phạm vi “yêu nước” cũng rất rộng, nhưng danh từ ái quốc không thể chứa một nội dung phản quốc. Một người đã có “thành tích” như Phan, dù ai muốn nhìn theo cách nào chăng nữa, cũng không thể lạm dụng hai chữ ái quốc để gắn vào một cách dễ dàng, vì như thế chẳng những hồ đồ trong việc nhận thức Phan mà còn làm nhòa nhoẹt cả ý nghĩa yêu nước nữa.

Ðiểm thứ ba mà tôi muốn nhấn mạnh vào là cái chết của Phan. Thật ra, với những hành động kể trên, nếu Phan không kết thúc bằng một cái chết khá “đặc biệt” thì có lẽ dư luận đối với Phan cũng không có gì phức tạp lắm vì hành động của Phan đủ nói lên Phan là người như thế nào rồi. Theo tôi, chủ trương của Phan đã dẫn Phan đến chỗ bế tắc mà chỉ có thể kết cục bằng một cái chết. Nói một cách khác, cái chết của Phan là tất nhiên, là rất biện chứng trong chỗ bế tắc của Phan. Tuy vậy, có người vẫn ca tụng Phan là không tham sống sợ chết. Ở đây, tôi không muốn nhắc lại những cái “ngoắt ngoéo” trong giờ phút cuối của Phan mà nhiều bạn đã vạch ra để chứng tỏ là Phan không phải không tham sống sợ chết. Tôi chỉ đặt câu hỏi là: có những trang hào kiệt không tham sống sợ chết để làm nên một việc gì tốt đẹp thì cái tham sống sợ chết ấy mới có ý nghĩa; còn Phan-thanh-Giản nếu quả có không tham sống sợ chết chăng nữa thì để làm nên cái gì? Nói rằng Phan chết để giữ trọn tiết nghĩa chăng? Thì cái sống của Phan đối với dân, với nước đã mất hết tiết nghĩa rồi, còn nói gì đến chết. Nói rằng Phan là một tín đồ chăng? Thực ra, cái chết của Phan, khác với cái hy sinh của các bậc nghĩa liệt khác, không phải để giữ “đạo lành” cho đến chết, cũng chẳng phải liều chết để làm nên một điều “nhân” vì cái gọi là “đạo lành” là điều “nhân” lúc đó chính là giết giặc cứu nước, là theo nguyện vọng của nhân dân; trái lại là đạo dữ, là bất nhân, là phản bội. Thôi, chúng ta hãy làm một việc ngay thẳng là trả cái chết của Phan-thanh-Giản lại cho Phan-thanh-Giản, cái chết do chính “tác giả” tạo ra, qua một quá trình dài lâu dẫn đến chỗ không lối thoát. Dầu sao, cái chết của Phan cũng chỉ có thể chấm dứt con đường bế tắc của Phan, chớ không thể xóa được tội danh của Phan trước tòa án dư luận nhân dân và lịch sử. 

Ðiểm thứ tư mà chúng ta không thể bỏ qua được là: trong khi kết án Phan-thanh-Giản, chúng ta một mặt không để Phan trốn tránh trách nhiệm do Phan trực tiếp phụ trách; một mặt khác chúng ta không quên gắn liền Phan với triều đình Huế mà Phan là đại diện với giai cấp phong kiến mà Phan là tiêu biểu. Như mọi người đều biết, khi thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm nước ta thì cũng là lúc giai cấp thống trị tức giai cấp phong kiến nước ta đã hết nhựa sống, đương hãm vào thế bí. Do đó, trước nạn ngoại xâm, tư tưởng thỏa hiệp đầu hàng đã dần dần thấm vào tầng lớp trên của giai cấp phong kiến. Mặc dầu trong quá trình phân hóa còn có phái chủ chiến, nhưng tư tưởng đầu hàng vẫn ngày càng phát triển và trở nên tư tưởng chủ đạo của giai cấp phong kiến. Bị uy hiếp trước uy vũ của văn minh Tây phương, luận điệu cầu an của Phan-thanh-Giản nhắc lại chuyện cũ như “Hán Văn đế hòa với Hung-nô” hay “Tống Chân tôn hòa với Khiết-đan” đã nói lên tư tưởng của giai cấp thống trị bấy giờ một mặt thì tự kiêu, cho những nước bên ngoài đều là mọi rợ; trái lại, một mặt khác, lại tự ty sợ địch, dọn sẵn con đường đầu hàng. Thật thế, nếu triều đình Huế mà kiên quyết kháng chiến, Tự-đức không có những chỉ thị “nước đôi” thì Phan-thanh-Giản và Lâm-duy-Hiệp sẽ không dám tùy tiện dâng đứt ba tỉnh miền Ðông Nam-kỳ cho giặc. Chẳng những thế, sau khi Phan-thanh-Giản đã ký nhượng ba tỉnh miền Ðông, trước sự công phẫn của nhân dân, Tự-đức cũng đã phải kết án Phan, Lâm là “tội nhân của thiên cổ” nhưng rồi Phan vẫn là người tín nhiệm của triều đình Huế, được triều đình giao cho trọng trách, để rồi một lần nữa, dâng nốt ba tỉnh miền Tây cho giặc. Như thế Phan-thanh-Giản phải chịu trách nhiệm trực tiếp những việc mà ông đã làm, nhưng cũng quán triệt tinh thần và đường lối đầu hàng của triều đình Huế mà ông là đại diện. Ấy là chưa kể sau khi sáu tỉnh Nam-kỳ đã mất và Phan-thanh-Giản đã chết, triều đình Huế vẫn đi theo chiều hướng đầu hàng cho tới khi nước ta bị mất hoàn toàn về giặc Pháp. Như vậy, kết tội Phan-thanh-Giản phải gắn liền Phan với triều đình Huế và bản án Phan-thanh-Giản là nằm trong hồ sơ bản án hàng giặc bán nước của triều Nguyễn. 

Tóm lại, qua cuộc thảo luận, chúng ta đã thành công trong việc đánh giá Phan-thanh-Giản, một nhân vật có nhiều khía cạnh phức tạp. Xung quanh Phan-thanh-Giản còn “viền” nhiều sự việc khác của giai đoạn lịch sử chồng chất những sự biến phức tạp. Nếu chúng ta không nhằm vào khâu chính của sự vật, không dùng phương pháp khoa học để phân tích đặng nhận rõ người và việc thì không thể giải quyết được vấn đề. Sau khi đánh giá xong Phan-thanh-Giản, chúng ta sẽ chuyển sang một nhân vật lịch sử khác. 

8-1963

Giáo sư – Viện sĩ Trần Huy Liệu

[1]Danh từ của pháp luật là “giảm đẳng”.

Nguồn: Tạp chí Thế kỉ 21, số 185 (số đặc biệt về Phan Thanh Giản), tháng 9.2004

Lê Hương Lan Giới thiệu

 =======

Mời xem bài liên quan

1. VỀ PHÁT BIỂU CỦA CỐ TT VÕ VĂN KIỆT "30/4 CÓ TRIỆU NGƯỜI VUI, TRIỆU NGƯỜI BUỒN"

2. BA LÝ DO THƯƠNG SẼ ĐẤU TRANH TỚI CÙNG VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI LÚC CUỐI ĐỜI CỦA CỤ VÕ VĂN KIỆT!

3. ĐẠI TÁ NGÔ HỒNG VINH PHÂN TÍCH 3 ĐIỂM HỚ HÊNH CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT ĐỂ NHÓM LẬT SỬ LỢI DỤNG
4.  
NỖI ĐAU VÕ VĂN KIỆT

5. ĐẠI TÁ NGUYỄN KIM KHANH: QUAN ĐIỂM “DĨ HÒA VI QUÝ’ CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT LÀ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN!

6. CHÂN LÝ BÁC HỒ- "Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu CNXH"

7. THƯƠNG LIKE VÀ CHIA SẺ STT NÀY ĐỂ MỌI NGƯỜI THẤY RÕ NHỮNG HẬU QUẢ TỪ PHÁT NGÔN SƠ HỞ CỦA CỤ VÕ VĂN KIỆT MÀ THƯƠNG ĐÃ CẢNH BÁO.

8. KẺ NÀO XÉT LẠI LỰA CHỌN XHCN CỦA BÁC HỒ THÌ KẺ ĐÓ CHÍNH LÀ KẺ PHẢN BỘI QUYỀN LỢI DÂN TỘC VIỆT NAM...

9. TRAO ĐỔI VỚI BÁC NHÀ BÁO LÃO THÀNH, ĐÁNG KÍNH DƯƠNG   ĐỨC QUẢNG VỀ CỤ LÊ DUẨN...

10. CẢM ĐỘNG- MỘT DŨNG SỸ QUẢNG TRỊ TỰ VIẾT "GIẤY BÁO TỬ”...

11. Chuyện zui, TRAO ĐỔI VỚI BÁC DƯƠNG VƯƠNG KINH VỀ TÊN TỘI ĐỒ PHAN THANH GIẢN...

12. Hội chứng nguy hiểm- "TRIỆU NGƯỜI VUI, TRIỆU NGƯỜI BUỒN”...

13. VỀ PHÁT NGÔN CUỐI ĐỜI CỦA CỤ VÕ VĂN KIỆT- NHỮNG Ý KIẾN THẤU TÌNH ĐẠT LÝ ...

14. TRUNG TƯỚNG NGUYỄN THANH TUẤN PHÊ PHÁN THIẾU TƯỚNG LÊ VĂN CƯƠNG..

15. TƯỚNG NGUYỄN QUỐC THƯỚC VÀ TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN PHẢN BIỆN GAY GẮT VỚI ÔNG VÕ VĂN KIỆT VỀ VAI TRÒ TỔNG THỐNG NGỤY DƯƠNG VĂN MINH

16. Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG 30.4.1975- SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

17. Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn lý giải: VÌ SAO LỊCH SỬ CHIẾN THẮNG 30/4 VẪN BỊ XUYÊN TẠC?

18. “CỤ NGÔ TỔNG THỐNG” SỐNG LẠI CHẮC SẼ VẢ GẪY RĂNG LŨ LẬT SỬ COI NGỤY SÀI GÒN LÀ QUỐC GIA ĐỘC LẬP!

19. TỪ NAY BẤT KỲ KẺ NÀO NÓI NGỤY SÀI GÒN LÀ 1 QUỐC GIA THÌ ĐÓ CHÍNH LÀ KẺ PHẢN ĐỘNG, MUỐN DÂNG BIỂN ĐẢO CHO TRUNG QUỐC!.

20. ĐẶT TÊN ĐƯỜNG ALEXANDRE DE RHODES Ở TP HỒ CHÍ MINH-  ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐÃ “LÀM TRỘM” TRONG ĐÊM RA SAO?

21. BÁO PHÁP LUẬT TP. HCM XUYÊN TẠC LỜI ÔNG LÊ DUẨN ĐỂ TUYÊN TRUYỀN CHO TƯ TƯỞNG PHẢN ĐỘNG CỦA NGUYỄN DUY..

22. SỐ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG MIỀN NAM GẦN GẤP ĐÔI MIỀN BẮC- SỰ THẬT NÀY BÁC BỎ QUAN NIỆM ‘NỘI CHIẾN QUỐC- CỘNG’ HAY “NỘI CHIẾN NAM- BẮC’ CỦA ÔNG VÕ VĂN KIỆT

23. Giảng bài cho ông Hoàng Duy Hùng về chữ “ngụy”: ĐÒI BỎ CHỮ “NGỤY” TỨC LÀ ÔNG VẪN MUỐN “RỬA MẶT” CHO MỸ NGỤY (VNCH)!

24. GIẢNG BÀI CHO ÔNG HOÀNG DUY HÙNG BẰNG 4 THỨ TIẾNG VIỆT- NGA- ANH- PHÁP

25. Cuối tuần: CÔ GÁI SÀI GÒN ĐI TẢI ĐẠN- Thêm một bài giảng cho Hoàng Duy Hùng

26. Chuẩn bị đón Ngày Lễ 30/4: “CÔ GÁI TƯỚI ĐẬU”- CA KHÚC SAU GIẢI PHÓNG SẼ SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN

27. HOAN NGHÊNH TẠP CHÍ TUYÊN GIÁO SỬ DỤNG LẠI CHỮ “NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN” TRONG BÀI VỀ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

28. CHUYÊN GIA NGUYỄN TRẦN BẠT PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “TRIỆU NGƯỜI VUI- TRIỆU NGƯỜI BUỒN” CỦA ÔNG VÕ VĂN KIỆT

29.  VIỆT NAM NÊN HỌC TẬP NGƯỜI NGA V/V TỔ CHỨC DIỄU HÀNH “Trung đoàn Bất tử”- “Бессмертный полк”

30.  Nghịch cảnh: NGÀY CHIẾN THẮNG 9/5 Ở NGA- TÔI NHỚ TÔI TỰ HÀO> < NGÀY CHIẾN THẮNG 30/4 Ở VIỆT NAM THÌ ÔNG VÕ VĂN KIỆT KHUYÊN: "NHẮC CHI VẾT THƯƠNG THÊM RỈ MÁU"!..

31. DỰNG TƯỢNG TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN, ÔNG VÕ VĂN KIỆT BỊ MẮNG BỞI MỘT NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG VĨNH LONG...

32. CÁC ÔNG VÕ VĂN KIỆT, PHAN HUY LÊ NHẦM LẪN KHI CHO RẰNG NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU ĐÃ “KHÓC THƯƠNG” TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN

31. CA NGỢI PHAN THANH GIẢN- PHAN HUY LÊ PHẢN BỘI QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI THẦY- VIỆN SĨ TRẦN HUY LIỆU

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

Cuối tuần: “SỢI NHỚ SỢI THƯƠNG”- SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA MỘT CA KHÚC THỜI CHỐNG MỸ

Tại một cuộc Hội thảo gần đây ở Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật TP.HCMNhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận định sáng tác văn học, nghệ thuật đang xuống thấp một cách không tưởng. Ông Liên băn khoăn: “Thấy kinh tế lên mà bỏ qua mặt trận văn hóa tư tưởng là sai lầm. Giữ chế độ này là giữ thành quả cách mạng, nhưng giờ bỏ qua hết, chạy theo giải trí, game show… Trong khi để kế thừa cái đã có thì làm không tốt, mà lại ca ngợi boléro của chế độ cũ thì chính là ca ngợi luôn đời sống của giai đoạn đó… Cũng từ khi đi vào thị trường, hội nhập, chúng ta lại quên đi biến động vô cùng phức tạp. Chương trình Âm nhạc Việt Nam - Những chặng đường trên VTV không biết chủ trương của Bộ Chính trị hay của ai, vì cái này ca ngợi nhạc của Sài Gòn cũ bằng những lời có cánh.”
Nhạc sỹ Trần Long Ẩn- Chủ tịch Hội Âm nhạc Tp HCM than phiền: "Nhạc cách mạng hiện nay gần như đã “rút lui vào hoạt động bí mật”. Các chương trình chính thống muốn lên đài truyền hình vào giờ vàng thì khó lắm. 63 tỉnh, thành thì có được bao nhiêu đài có phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch? Ít lắm. Cục Biểu diễn nghệ thuật từng bảo tôi: “Làm sao nhờ anh Năm Ẩn phát biểu giùm rằng, hiện nay không còn khái niệm nhạc cũ trước giải phóng nữa”.
Google.tienlang nhất trí với Nhạc sỹ Trần Long Ẩn, rằng "Đại đoàn kết dân tộc là chủ trương hết sức vĩ đại, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhưng đoàn kết luôn có nguyên tắc tôn trọng độc lập tự do, tôn trọng lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể nhân danh hòa hợp dân tộc để coi như ngang nhau được. Nhạc ca ngợi Việt Nam Cộng hòa mà giờ cũng cho là ca ngợi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì không được!"
Chúng tôi xin thưa với Cục Biểu diễn nghệ thuật cùng lãnh đạo của các Đài truyền hình của 63 tỉnh thành rằng, các vị cho rằng thời nay giới trẻ chỉ thích boléro   nhận định hoàn toàn sai lầm! 
Minh chứng cho kết luận trên của chúng tôi là: Trong các cuộc hội diễn văn nghệ của thanh thiếu nhi ở các thôn làng phường xã khắp trong Nam ngoài Bắc, giới trẻ chúng tôi không bao giờ lựa chọn các bài boléro, thực chất là nhạc vàng ủy mị, tắc tị.
Chúng tôi ca hát là muốn dùng tiếng hát động viên nhau thêm yêu đời, yêu quê hương, Tổ quốc chứ không phải để than khóc, ủ rũ.
Một minh chứng nữa, là chính tôi bắt gặp trên mạng Youtube, dù chả cần ai "định hướng, chỉ đạo" nhưng những bài tình ca của người lính Trường Sơn từ cách đây cả nửa thế kỷ nhưng lại được các bạn trẻ hôm nay lựa chọn làm bài hát ở ... đám cưới của mình.
Đó là bài hát “SỢI NHỚ SỢI THƯƠNG” của nhạc sĩ Nam bộ Phan Huỳnh Điểu phỏng thơ của Thúy Bắc.
Mời mn nghe bài Sợi nhớ sợi thương được một cô dâu hát trong lễ thành hôn của mình:
Lời bài hát: 

Sợi nhớ sợi thương

Trường Sơn Đông/Trường Sơn Tây/Bên nắng đốt/Bên mưa quây

 Em dang tay/Em xòe tay/Chẳng thể nào/Xua tan mây

Chẳng thể nào/Che anh được/Rút sợi thương/Chằm mái lợp

Rút sợi nhớ/Đan vòm xanh/Nghiêng sườn đông/Che mưa anh

Nghiêng sườn tây/Xòa bóng mát/Rợp trời thương/Màu xanh suốt

Em nghiêng hết/Về phương anh.

Thúy Bắc

Nhạc sỹ Nam bộ Phan Huỳnh Điểu

 Nhà thơ Thúy Bắc (đứng giữa)

Trong bài thơ: Nước non ngàn dặm nhà thơ Tố Hữu có viết hai câu thơ: “Trường Sơn, Đông nắng Tây mưa/ Ai chưa đến đó thì chưa biết mình”. Quả thật là vậy, nhắc đến Trường Sơn huyền thoại là người ta nhớ về một thời đạn bom đầy ác liệt và anh hùng của dân tộc Việt Nam. Cái thời mà cả nước ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu). Cũng từ nơi chiến trường khốc liệt đó, những vần thơ đã vút lên bất chấp cái chết bủa vây. Để rồi mãi mãi trường tồn cùng với thời gian. Một trong những bài thơ để lại nhiều dư âm trong lòng độc giả là bài thơ “Sợi nhớ sợi thương” của nữ sĩ Thúy Bắc - em gái của hai nhà phê bình nổi tiếng của văn học Việt Nam thế kỷ XX - Hoài Thanh và Hoài Chân.

Mời mn thưởng thức bài Sợi nhớ sợi thương do Thụy Miên trình bày:

Bài thơ ra đời năm 1973, nằm trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Đây là một trong những bài thơ khá độc đáo về hình thức, kết cấu của thơ ca Việt Nam thời kì lúc bấy giờ. Toàn bộ bài thơ chỉ có 66 từ, mỗi câu 3 tiếng, 2 câu hình thành một khổ, cách gieo vần hầu như không theo một niêm luật nào cả, vừa như có vần lại vừa như không. Ấy thế nhưng bài thơ lại có sức lôi cuốn rất lớn đối với độc giả bởi âm điệu ngọt ngào và nội dung trữ tình sâu lắng. Bài thơ được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc và nó nhanh chóng ăn sâu bám rễ vào tâm hồn những người yêu thơ nhạc. Mỗi khi lời thơ được cất lên đều khiến cho lòng người xúc động bồi hồi xao xuyến. Toàn bộ bài thơ không có từ ngữ nào nói đến chiến tranh, đến bom rơi đạn nổ, chỉ có những câu thơ gợi lên sự gian khổ của núi rừng Trường Sơn, “bên nắng đốt”, “bên mưa quây”. Nhưng chủ ý của tác giả viết về gian khổ của cuộc chiến ở rừng Trường Sơn không phải để “ôn nghèo, kể khổ”. Giữa cái gian nan, vất vả đó tình yêu đã cất cánh bay lên nồng nàn đầy lãng mạn, trong sáng và lạc quan đến thần kỳ, huyền thoại, như chưa bao giờ có cuộc chiến tranh nào đã và đang xảy ra.

Trên tuyến đường Trường Sơn ngày ấy không chỉ có những anh bộ đội dũng cảm can trường mà còn phải kể đến sự góp mặt của những cô gái Thanh niên xung phong chân yếu tay mềm nhưng cũng can trường gan dạ không thua các đấng nam nhi.  Và những mối tình giữa các cô gái TNXP với các anh bộ đội như một tứ thơ vút lên trên khói lửa chiến tranh. Nhà thơ Thúy Bắc đã cụ thể hóa nỗi nhớ của các cô gái TNXP thành đơn vị “sợi” nhỏ nhoi mà bền chặt. Từng “sợi thương” kết thành mái che rợp đầy nhung nhớ của những cô gái Trường Sơn từ bên Đông nắng cháy gửi sang phía Tây mịt mù mưa gió cho người yêu trên dặm dài chiến đấu. Vô vàn “sợi nhớ” đan thành vòm xanh mát mong được che cho người yêu trên chặng đường hành quân. Đọc bài thơ người đọc có thể cảm nhận được tình yêu của những cô gái TNXP sao mà bao dung đến thế. Họ cũng phải hàng ngày đối mặt với cheo leo đồi dốc, với mưa rừng, thác lũ, nắng rát mặt, bom đạn kẻ thù cùng hàng trăm thứ gian khổ khác. Ấy thế nhưng họ lại chỉ lo lắng cho người mình yêu thương, chắt lọc hết ngọt ngào, ấm áp, dịu dàng để dành cho người ra trận.

Nhà thơ Thúy Bắc chỉ dùng một chữ “nghiêng” thôi mà diễn tả hết được cái nồng cháy của tình yêu ấy. Mỗi người lính, mỗi cô TNXP hàng ngày đều cận kề với cái chết, thế nhưng các cô vẫn lạc quan, yêu đời và dành nhiều tình cảm để “nghiêng hết/ về phương anh”. Từ “nghiêng” trở thành từ chủ đạo trong câu thơ và cũng là để kết thúc bài thơ. Chỉ có tình yêu “đúng nghĩa” của nó thì mới tạo ra được hàng trăm, hàng ngàn sợi nhớ, sợi thương như vậy. Một tình yêu trong sáng, thủy chung đầy tình người và tình yêu quê hương đất nước.

Nguyễn Hoàng Thư Lê Cộng tác viên âm nhạc của Google.tienlang

====

Mời xem các bài liên quan:

1- ЯК ТЕБЕ НЕ ЛЮБИТИ, КИЄВЕ МІЙ! - SAO LẠI KHÔNG YÊU EM, KIEV CỦA TÔI! 

2- Cuối tuần đi thăm Alla Pugatrova- ca sĩ nổi tiếng 65 tuổi vừa sinh con 

3- "Đóa cẩm quỳ" bị đổ máu ở Odessa tối 3.8.14 

4- Cuối tuần giới thiệu bài hát hot: "PUTIN CỦA TÔI" 

5- Hương Tràm sexy hơn nhưng “nghệ thuật” hơn trong I'm still loving you

6. Cuối tuần: NHỮNG CA KHÚC TUYỆT VỜI HƠN KHI ĐƯỢC LÀM MỚI BỞI CÁC TÀI NĂNG NHÍ...

7. Clip hot: NỮ SINH TRƯỜNG MÚA NOVOSIBIRSK (NGA) LÀM CHAO ĐẢO CỘNG ĐỒNG YOUTUBE.- Hoàng Minh Tâm

8. Cuối tuần: MIỀN TÂY QUÊ TÔI- TÌNH NGƯỜI MIỀN TÂY

9. Cuối tuần- ÍT AI NGỜ CA SĨ QUỲNH TRANG LẠI LÀ SĨ QUAN QUÂN ĐỘI...

10. Cuối tuần: MASURI- NHƯ THẤY ÂM VANG GIAO HÒA ĐẤT TRỜI CUỒN CUỘN.

11. Khai bút đầu năm: THẾ GIỚI HÁT VỀ HỒ CHÍ MINH

12. Mồng 4 Tết Nghe NHẠC XUÂN TRỮ TÌNH CỦA CA SĨ GIÁNG TIÊN SẼ SUNG TÚC CẢ NĂM...

13. Clip cuối tuần: LA TIỂU BẠCH- TAY TRỐNG CỰ PHÁCH XỨ ĐÀI

14. Chuẩn bị đón Ngày Lễ 30/4: “CÔ GÁI TƯỚI ĐẬU”- CA KHÚC SAU GIẢI PHÓNG SẼ SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN

15. Cuối tuần: “SỢI NHỚ SỢI THƯƠNG”- SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA MỘT CA KHÚC THỜI CHỐNG MỸ

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

CÁC CHUYÊN GIA CẢNH BÁO NGƯỜI ANH: "MUỐN ĐUN MỘT ẤM NƯỚC PHẢI XIN PHÉP PUTIN"!

Google.tienlang xin giới thiệu bài trên báo Ukraina (có đuôi .ua) với tiêu đề Великобритания готовится к немыслимому- Dịch: Vương quốc Anh chuẩn bị cho điều không thể tưởng tượng được

На фоне беспроцентного энергетического кризиса, накрывшего Великобританию, премьер-министр Борис Джонсон заявил, что правительство планирует перевести страну на производство электроэнергии исключительно из возобновляемых источников к 2035 году.

https://nk.org.ua/p/velikobritaniia-gotovitsia-k-nemyslimomu-00507024

******

Bản lược dịnh của Google.tienlang:

CÁC CHUYÊN GIA CẢNH BÁO NGƯỜI ANH: "MUỐN ĐUN MỘT ẤM NƯỚC PHẢI XIN PHÉP PUTIN"! (Tiêu đề của Google.tienlang)

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng đang tấn công Vương quốc Anh, Thủ tướng Boris Johnson cho biết chính phủ có kế hoạch chuyển đất nước sang sản xuất điện độc quyền từ các nguồn tái tạo vào năm 2035.

Còn ngay bây giờ, để giải quyết việc thiếu năng lượng, Chính phủ Anh đã buộc phải đình chỉ chương trình thanh lý các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Hơn nữa, tình trạng thiếu điện đã đến mức khiến các nhà chức trách phải công khai yêu cầu khôi phục chương trình hạt nhân và khẩn trương bắt đầu xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới. Nếu không, các chuyên gia đe dọa, bất cứ khi nào một người Anh muốn đun một ấm nước, anh ta sẽ phải xin phép Putin.

Từ cách đây cả chục năm, ở Vương quốc Anh đã được biết đến với cuộc đấu tranh quyết liệt vì môi trường, không thích nhiệt điện, không thích điện nguyên tử và cũng không thích sự phụ thuộc vào hơi đốt từ Nga. Các ý tưởng tìm kiếm năng lượng sạch đã chiến thắng! Chính vì vậy, ở Anh đã tiến hành Chương trình thanh lý các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than.

Thế nhưng, trên thực tế, tất cả những dự án “Năng lượng sạch” chẳng qua chỉ là một huyền thoại không liên quan gì đến thực tế!
Về Năng lượng hạt nhân, người Anh cũng đã nghĩ đến rất sớm, ngay từ những năm chiến tranh thế giới thứ hai. Vào thời điểm các nhóm xe tăng của Hồng quân Liên Xô chiến đấu đến chết trên tàu Kursk Bulge, người Mỹ và người Anh ở Quebec, Canada, đã ký một thỏa thuận bí mật để bắt đầu thực hiện dự án Manhattan. Dự án này đã cho ra đời 2 quả bom nguyên tử để ném xuống các thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản. Người Anh khi tham gia Dự án Manhattan với Mỹ, người Anh cũng bí mật (với Mỹ) thực hiện một chương trình vũ khí nguyên tử của riêng họ, được gọi là Tube Alloys, đến nay, chi tiết của Chương trình này vẫn chưa được công bố. Năm 1946, người Mỹ quyết định một tay sở hữu vũ khí mạnh nhất trong lịch sử và thông qua cái gọi là Đạo luật McMahon, cấm chuyển giao dữ liệu khoa học và những phát triển về quá trình phân hạch của nguyên tử cho bất kỳ bên thứ ba nào.

Đồng thời, các nhà khoa học Liên Xô rất nhanh chóng nhận ra rằng một nguyên tử tách ra không chỉ là cái chết, mà còn là khả năng vô hạn về mặt năng lượng. Lò phản ứng hạt nhân công nghiệp đầu tiên của Liên Xô đã được đưa vào hoạt động tại thành phố Obninsk vào năm 1954. Người Anh cũng đưa ra kết luận tương tự sau đó - hai tổ máy điện đầu tiên của trạm Hunterston chỉ được đưa vào vận hành vào năm 1976.

Những năm bảy mươi và tám mươi thế kỷ trước là thời kỳ hoàng kim của nguyên tử Anh. Sáu trong số bảy nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động ngày nay - Hunterston, Torness, Hartlepool, Heysham, Hinkey Point và Dungeness - đã được đưa vào vận hành trong giai đoạn này. Nhà máy điện hạt nhân Sizewell cuối cùng đã sản xuất dòng điện đầu tiên vào năm 1995, tức là hôm nay nó đã tròn 25 tuổi, và các đồng nghiệp của nó đang đến gần hoặc đã kỷ niệm 40 năm thành lập. Trung tâm của tất cả các trạm là GCR (lò phản ứng làm mát bằng khí) với công suất lắp đặt trung bình 550-600 megawatt, và hiện tại chúng đã lạc hậu sâu sắc.

Tại quốc hội Anh đã có các cuộc thảo luận về nhu cầu xây dựng một nhà máy điện hạt nhân mới để đáp ứng nhu cầu năng lượng của London, cũng như nâng cấp các trạm Wylfa Newydd, Oldbury, Bradwell và tổ máy điện thứ hai tại Sizewell đã được đề cập. Nhưng mọi thứ đã không vượt ra ngoài những bản thảo trên giấy và những cuộc tranh cãi bất tận.

Có lẽ chúng ta cần bắt đầu với thực tế rằng người Anh ngày nay đơn giản là không thể tự mình xây dựng một nhà máy điện hạt nhân. Nói về việc mất cơ sở khoa học và sự xuống cấp của các ngành công nghiệp nặng về tri thức, người ta thường lấy nước láng giềng Ukraina làm ví dụ. Ukraina- Quốc gia nghèo nhất ở châu Âu ngày nay, khởi đầu là một quốc gia dẫn đầu về công nghiệp cách đây ba mươi năm. Ở  Vương quốc Anh ngày nay, ngay cả sự hiện diện của một số tiền khổng lồ cũng không đảm bảo cho việc duy trì cơ sở khoa học kỹ thuật. Đó là một việc để giải quyết vấn đề tài chính và hoạt động tư pháp, và một việc khác là tiến hành các công việc khoa học liên tục. Tất cả các phát triển kỹ thuật của người Anh trên các nhà máy điện hạt nhân của họ ngày nay đã lỗi thời, và nhóm vận hành nhà máy Sizewell cuối cùng hầu hết đã nghỉ hưu.

Nhận thấy tình trạng yếu kém của mình, vào năm 2015, Thủ tướng khi đó là David Cameron, trong cuộc gặp với Tập Cận Bình, đã yêu cầu giúp đỡ để hồi sinh dự án hạt nhân của Anh. Bắc Kinh đã đồng ý và các bên đã ký một thỏa thuận sơ bộ, theo đó Tổng công ty hạt nhân Trung Quốc (CGN) thuộc sở hữu nhà nước sẽ hoàn thành nâng cấp tổ máy điện lâu đời C tại nhà máy điện hạt nhân Sizewell và xây đựng mới hai lò phản ứng do chính họ thiết kế tại nhà ga Bradwell-on-Sea. Người Trung Quốc cũng mua cổ phần trong nhà máy Hinkley Point.

Và sau đó điều thú vị nhất bắt đầu.

Whitehall ban đầu đồng ý phân bổ 20 tỷ bảng Anh cho việc xây dựng một tổ máy điện Sizewell, nhưng tất cả các loại tổ chức môi trường đã ngay lập tức can thiệp, tuyên bố rằng Bắc Kinh đến Quần đảo Anh không phải để xây mới mà là để lưu trữ chất thải hạt nhân của chính họ. ở đây .

Tổng Cty hạt nhân Trung Quốc phủ nhận tất cả các cáo buộc, nhưng sự chậm trễ dẫn đến thực tế là việc xây dựng đã không bắt đầu. Và vào năm ngoái, London, trung thành với nghĩa vụ đồng minh với Mỹ, với sự bùng nổ của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, đã đơn phương chấm dứt mọi thỏa thuận với các nhà khoa học hạt nhân Trung Quốc.

Trong khi đó, về mặt vật lý, London thiếu một kế hoạch phát triển ngành công nghiệp hạt nhân, cùng với chuỗi sản xuất và hợp tác bị mất, khiến bất kỳ dự báo nào chỉ mang tính chất suy đoán.

Thật buồn cười, nhưng các tác giả của sáng kiến ​​điện nguyên tử viết rằng nếu Anh muốn tiếp tục xây dựng điện hạt nhân, thì nước này cần phải chuẩn bị trước cho một cuộc chiến với các tổ chức như Greenpeace- Tổ chức Môi trường xanh.

Ô tô lái trong bão tuyết trên đường cao tốc ở châu Âu- Nhân loại đã được dự đoán về một cuộc khủng hoảng toàn cầu vào mùa đông này

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu khí đốt tự nhiên tăng giá mới mỗi ngày, và giá than đá cũng không kém xa nó?

Người dân Anh thì rất cần năng lượng cho sản xuất và sưởi ấm từ hôm qua, hôm nay và cả ngày mai! London sẽ thoát khỏi tình trạng này như thế nào vẫn chưa rõ ràng.
Hoàng Minh Tâm Dịch và giới thiệu

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2021

CÁC ÔNG VÕ VĂN KIỆT, PHAN HUY LÊ NHẦM LẪN KHI CHO RẰNG NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU ĐÃ “KHÓC THƯƠNG” TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN

Lời dẫn: Các ông Võ Văn Kiệt, Phan Huy Lê, Hoàng Lại Giang, Dương Trung Quốc … không chỉ một lần đưa ra lý lẽ: “Nguyễn Đình Chiểu, một con người cùng thời với Phan Thanh Giản, được xem là ngọn cờ đầu của công cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ thời bấy giờ đã khóc thương khi hay tin Phan Thanh Giản mất. Nhà thơ mù đất Bến Tre bằng ngòi bút “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” luôn có con mắt sáng khi nhìn sự việc: ông đánh giá sự hy sinh của nghĩa binh Cần Giuộc đánh đồn, cũng như khi ông làm hai bài thơ điếu Phan Thanh Giản với lời lẽ thắm thiết thương cảm lắm…”

Chả hiểu mấy vị có biết bào đệ của nhà thơ cũng là một nghĩa binh trong đội quân của “Bình tây đại nguyên soái” Trương Định và đã “vị quốc vong thân” cùng chủ tướng, thì sao Cụ Đồ lại có thể thương khóc người đã dâng thành cho giặc, cắt đôi khúc ruột của mình?!

Nhà giáo Phạm Thị Hảo, Trưởng Bộ môn Văn học nước ngoài và trực tiếp làm giảng viên môn Văn học cổ Trung Quốc tại Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã có bài “Viết về Phan Thanh Giản,nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu”, giảng giải rành mạch ý tứ thâm sâu của cách “đối” thơ Hán – Nôm là như thế nào. Qua hai bài thơ này, Sự thật thì Cụ Đồ Chiểu đã phê phán, chỉ trích cái tội bán nước dâng thành của Phan Thanh Giản. Google.tienlang xin trình toàn văn bài viết đó.

Đôi nét về tác giả Phạm Thị Hảo

Cô Phạm Thị Hảo sinh năm 1933 ở Ninh Bình, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ngay từ năm 1951 cô đã được cử sang học đại học về Trung văn ở Nam Ninh, Trung Quốc, cùng thế hệ với GS Phan Văn Các (nguyên Viện trưởng Viện Hán Nôm), GS Đặng Đức Siêu, GS Nguyễn Ngọc San (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội)…Học hết 4 năm đại học, cô ở lại dạy tiếng Hoa cho lưu học sinh Việt Nam ở Khu học xá Trung ương Nam Ninh. Năm 1959 cô về nước, làm giảng viên Trung văn của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Đầu thập niên 1960 đến năm 1972 cô tham gia lớp bồi dưỡng Hán Nôm ở Trường Đại học Sư phạm và Viện Văn học tổ chức. Nhờ đó cô được thọ giáo những nhà Hán học danh tiếng nhất của Việt Nam lúc bấy giờ như: Cao Xuân Huy, Lê Thước, Phạm Phú Tiết, Phạm Thiều, Hoàng Thúc Trâm, Đào Phương Bình, Đỗ Ngọc Toại, Nguyễn Kỳ Nam… Cô tiếp tục giảng dạy về ngữ văn Trung Quốc ở Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau năm 1975 cô chuyển vào Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm TPHCM, làm trưởng bộ môn Văn học nước ngoài một thời gian dài.

Cô Phạm Thị Hảo, một nhà giáo yêu nghề, giản dị, tận tụy với học trò; một nhà Hán học uyên bác, khiêm nhường, có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu ngữ văn phương Đông đã ra đi ngày 3-11-2012 tại TPHCM.

*****

Viết về Phan Thanh Giản nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu

Phạm Thị Hảo - Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh

Trong lý luận văn nghệ cổ đại Trung Quốc có thuật ngữ “Bút pháp Xuân Thu” tức là văn chương viết theo lối của Khổng Tử trong bộ Kinh “Xuân Thu”, hàm súc, ngắn gọn, dùng chữ nghĩa thâm thúy thể hiện sự khen chê (xưa gọi là bao biếm) đối với một nhân vật hoặc một sự kiện nào đó.

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã chủ trương dùng “Bút pháp Xuân Thu” trong sáng tác của mình: “Học theo ngòi bút chí công/ Trong thơ có ngụ tấm lòng Xuân Thu” (Lục Vân Tiên). Và ông đã vận dụng nhất quán tinh thần đó trong các tác phẩm tiêu biểu. Chỉ tìm hiểu 2 bài thơ của ông điếu Phan Thanh Giản, có thể thấy điểm này thể hiện rõ ràng.

Bài thứ nhất viết bằng chữ Hán:

Lịch sĩ tam triều độc khiết thân

Phi công thùy tản nhất phương dân

Long Hồ uổng phụ thư sinh lão

Phụng Các không vi học sĩ thần

Bỉnh tiết tần lao sinh Phú Bật

Tận trung hà hận tử Trương Tuần

Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự

An (nan) đắc thung dung tựu nghĩa thần.

Hai câu thơ đầu là lời chân thành mến phục:

Làm quan trải ba triều vua, ông vẫn riêng mình giữ được tấm thân trong sạch.

Không có ông thì ai là người che chở cho cả một phương dân chúng.

Là nhà thơ tích cực luôn ưu thời mẫn thế, yêu nước thương dân, tất nhiên Nguyễn Đình Chiểu tán thưởng và kính phục đạo đức, công lao của Phan Thanh Giản. Sức nặng của chữ nghĩa: lịch sĩ, độc khiết thân, phi công, thùy tản cho thấy một sự đánh giá cao và chân thành.

Bút pháp Xuân Thu bắt đầu phát huy tác dụng ở hai câu 3, 4:

Long Hồ uổng phụ thư sinh lão

Phụng Các không vi học sĩ thần.

Ở Long Hồ (nơi quê hương), ông đã uổng phụ cái chí làm người học trò già

Nơi Phụng Các (chốn làm quan) ông đã làm một cách hão người bề tôi học sĩ.

Hai Cụm từ “uổng phụ” (phụ bỏ uổng phí) và “không vi” (làm một cách vô ích, làm hão, chẳng tích sự gì) là sự phiền trách, xót tiếc nặng nề biết bao.

Phan Thanh Giản từng tự xưng là “thư sinh lão”, là người học trò già lương thiện, khiêm nhường, nhưng với việc làm của ông dâng đất dâng thành cho giặc chứng tỏ ông đã “uổng phụ” cái chí thanh cao đó. Việc làm của ông đã phủ định tài năng “học sĩ thần” của ông.

Đến câu 5, 6 thì càng uẩn áo hơn:

Bỉnh tiết tần lao, sinh Phú Bật

Tận trung hà hận, tử Trương Tuần

Bút pháp Xuân Thu cho thấy ở đây 2 tầng ý nghĩa:

Mới đọc, có thể hiểu là sự đánh giá rất cao:

Cầm cờ tiết đi sứ, nhiều phen vất vả, sống như Phú Bật

Tận lòng trung, còn gì phải hận, chết như Trương Tuần.

Nhưng người đọc nào có hiểu biết về 2 nhân vật Phú Bật đời Tống và Trương Tuần đời Đường sẽ thấy đây là một sự so sánh phản diện, hàm ý mỉa mai (Phú Bật là người đời Tống Nhân Tông, vâng mệnh đi sứ Khiết Đan, đã lao tâm khổ tứ, hết lòng thuyết phục địch, cuối cùng đem về thắng lợi cho đất nước. Trương Tuần người đời Đường, đã dũng cảm chống giặc giữ thành, bị giặc bắt, đánh đập tàn tệ, vẫn kiên trinh và tử tiết trong tay giặc) sẽ không thể tin rằng một người yêu nước, đang đứng trong hàng ngũ nghĩa quân để chống giặc như Nguyễn Đình Chiểu lại có thể ví Phan Thanh Giản với hai nghĩa sĩ ngoan cường nổi danh này được. Phan đâu có gian lao vất vả đòi được đất về cho dân cho nước như Phú Bật? Phan đã đầu hàng dễ dàng hết đợt một đến đợt hai, Phan đâu có kiên trinh tử tiết trong tay quân giặc như Trương Tuần mà là tự hủy thân mình vì thất vọng, vì xấu hổ. Lúc gần chết lại còn lo sợ, hỏi ông cố đạo bên cạnh là liệu thuốc giải độc “có cứu được tôi không?”

 Cụ Nguyễn Đình Chiểu- Đồ Chiểu.

“Bút pháp Xuân Thu” khiến người đọc tự suy mà thấy ý. Từ hàm nghĩa từ ngữ và kết cấu văn pháp, từ đặc điểm “ý tại ngôn ngoại” của thơ ca văn ngôn, từ sự kết hợp với nhận thức tư tưởng của tác giả và thực tế hành vi của nhân vật, mới có thể hiểu tầng sâu của ý nghĩa như sau:

Cầm cờ tiết đi sứ mà nhiều phen vất vả (đem lại lợi ích cho dân cho nước) thì ông sẽ sống như Phú Bật.

Hết lòng trung (mà là minh trung) với vua với nước (chết oanh liệt vì lòng trung ấy), thì có gì phải hận, ông sẽ chết như Trương Tuần.

Hai câu thơ tưởng là ca ngợi mà lại là trách cứ, sâu xa biết bao!

Đến câu 7:

Hữu thiên, lục tỉnh tồn vong sự.

Người đọc có thể hiểu 2 cách:

- Có trời (thấu hiểu cho ông) về chuyện mất còn của 6 tỉnh.

- Có trời (phán xét ông) về chuyện mất còn của 6 tỉnh.

Và sẽ chọn được cách hiểu đúng nhất nếu gắn liền với câu tiếp sau:

Nan đắc thung dung tựu nghĩa thần.

(Khó mà có thể thung dung làm vị thần tựu nghĩa được)

Hoặc:

An đắc thung dung tựu nghĩa thần.

(Sao có thể thung dung làm vị thần tựu nghĩa được)

Vậy là ý phê phán thật đã rõ ràng:

- Có trời phán xét chuyện mất 6 tỉnh mà ông đã gây nên!

- Ông khó mà có thể thung dung thành vị thần tựu nghĩa được!

Câu cuối này khẳng định thái độ của Nguyễn Đình Chiểu. Và cả bài thơ là sự thông cảm, nhưng phê phán và xót tiếc cho lỗi lầm của người quá cố.

Bài điếu thứ hai là thơ Nôm:

Non nước tan tành hệ bởi đâu?

Dàu dàu mây bạc cõi Ngao châu

Ba triều công cán đôi hàng sớ

Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu

Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng

Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu

Minh tinh chín chữ lòng son tạc

Trời đất từ nay mặc gió thu.

Bài này cũng được “bút pháp Xuân Thu” thể hiện hai tầng ý nghĩa:

Hai câu đầu là một nỗi đau buồn. Buồn cho đất nước bị giặc tàn phá tan tành. Nơi Ngao châu, quê hương Cụ Phan giờ đây mây buồn che phủ. Thương tiếc người đã chết chăng? Đó là tầng nghĩa nông.

Tầng nghĩa sâu cho thấy Cụm từ “hệ bởi đâu?”. Không chỉ là nỗi đau mà còn là nỗi “hận”. Đất nước tan tành như thế, căn nguyên nào? Bởi vì ai? Thực tế ai cũng hiểu: đối tượng hậu trách là quân giặc, là Phan Thanh Giản và cả triều đình Huế.

Câu 2 lại chỉ nói đến Ngao châu là quê Phan và suốt cả bài thơ cũng chỉ nói đến Phan. Vậy có thể hiểu như sau:

Mây trắng đau buồn phủ khắp cõi Ngao châu. Cả vùng Ngao châu đau buồn vì người con của quê hương vốn được mến mộ mà nay lại đắc tội với dân với nước, gây nên nông nỗi.

Câu 3 và câu 4 cũng có tầng nghĩa nông là ca tụng:

Ba triều công cán đôi hàng sớ

Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.

Nhưng đọc kỹ hai Cụm từ “đôi hàng sớ” và “một gánh thâu” thì lại thấy ý ngược lại.

Một vị đại thần đầy tài năng mà suốt 3 triều vua rút Cục chỉ có “đôi hàng sớ” thôi ư? Phải chăng đây là đôi hàng sớ cuối cùng Phan nhận tội với triều đình? Và như vậy thì “Ba triều công cán” của ông quan này chẳng còn gì đáng kể.

Đến câu sau thì Cụm từ “một gánh thâu” có sức nặng ngàn cân để phủ định Cụm từ “sáu tỉnh cương thường”. Vì chữ “thâu” có nghĩa là thua, là mất, là thất bại, ngược lại với doanh là được, là thắng.

Vậy là đạo đức cương thường của Cụ Phan từng nổi tiếng lục tỉnh nay chỉ còn là “một gánh thua”, một sự thất bại nặng nề. Chao ôi, đau xót thay, mà cũng đáng trách thay!

Tiếp tới hai câu 5, 6:

Trạm Bắc ngày chiều tin điệp vắng

Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.

Hai câu này cực tả tình cảnh đáng thương của Phan trước lúc qua đời. Tài liệu cho biết: Sau khi nộp thành, dâng đất cho Tây, Phan Thanh Giản gói mũ áo, phẩm hàm, kèm theo sớ tạ tội, gửi về triều bằng tàu tốc hành (tàu Pháp) rồi khắc khoải chờ đợi, chắc còn hy vọng sẽ lại được tha tội như lần trước, sẽ lại được phục chức, trọng dụng. Song, mỏi mòn chờ mãi, chờ nửa tháng trời, tin điệp vẫn chẳng thấy đâu. Lo lắng rồi thất vọng, rồi tuyệt vọng, biết chắc bị bỏ rơi rồi. Cuối cùng tự tìm đến cái chết vào lúc nửa đêm, giờ Tý ngày 5-7 năm Đinh Mão tức 4-8-1867.

Nguyễn Đình Chiểu đã thấu hiểu, thông cảm với tình cảnh đáng thương này. Hai câu thơ càng khẳng định rằng Cụ Đồ không thể so sánh Cụ Phan với Phú Bật và Trương Tuần được.

Hai câu cuối cùng vừa chua chát vừa đau buồn trong ẩn ý của chúng:

Minh tinh chín chữ lòng son tạc

Trời đất từ nay mặc gió thu.

Bốn chữ “Minh tinh chín chữ” đã được các nhà nghiên cứu phân tích là Cụ Đồ uyên thâm cố ý dùng “chín chữ”(**) thay vì “mười một chữ”(**) như trong di chúc Cụ Phan để lại, để chữ “cữu” ứng với chữ “quỷ” chứ không phải chữ “linh” (Phan Thanh Giản dặn con cháu ghi trên minh tinh của mình 11 chữ:

Đại nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu

(Quan tài của người học trò già họ Phan nơi góc biển nước Nam)

Cụ Đồ dùng 9 chữ thì sẽ như sau:

Hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cữu(**)

(Quan tài của người học trò già họ Phan nơi góc biển)

Và theo phép đề minh tinh: Chín chữ thì chữ cữu sẽ ứng với chữ “quỷ”, còn nếu 11 chữ thì “cữu” sẽ ứng với chữ “linh”. Như vậy, Cụ Đồ xem như Cụ Phan chết đi chỉ thành ma chứ không thể thành thần được.

Điều này, những người có tấm lòng son với nước với dân (cả Cụ Phan, cả Cụ Đồ, cả mọi người dân) đều ghi nhớ mãi không quên. Đó là một bài học.

Đến câu chót “Trời đất từ nay mặc gió thu”.

Hai chữ “gió thu” ở đây rất quan trọng. Có người hiểu là “gió lành, gió mát” và giải nghĩa cả câu theo kiểu “gọt chân cho vừa giầy” rất khiên cưỡng và tối nghĩa. Tôi tra trong “Hán ngữ đại từ điển” (NXB Thượng Hải – 2004) thì thấy rành rọt: Thu phong là gió từ phương tây thổi lại, là gió tây (nghĩa thứ 11, và mục từ điều “Thu phong”). Cũng như nhiều nhà Nho khác, dù làm văn thơ Nôm, Cụ Đồ cũng thường dùng xen vài từ Hán, vì tiếng Việt đã đồng hóa nhiều từ tiếng Hán, rất nhiều từ đã được Việt hóa rất tự nhiên. Ngay trong bài thơ này cũng có đến mười mấy từ Hán như vậy.

Vậy có thể hiểu câu thơ là lời than đau xót:

“Đất nước từ nay mặc sức gió Tây tung hoành vùi dập. Sáu tỉnh phương Nam từ nay mặc sức giặc Tây giày xéo”.

Ngoài 2 bài điếu, Nguyễn Đình Chiểu còn tỏ thái độ đối với Phan Thanh Giản qua 2 câu thơ trong bài “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh”:

Phải trời cho cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh

Ít người đặng xem tấm bảng phong thần Phan học sĩ hết lòng mưu quốc.

Câu trên ca ngợi tướng quân Trương Định và đau lòng trước sự hy sinh của ông, trước sự thất thế của nghĩa quân.

Câu dưới là nói về Phan Thanh Giản. Nhiều người chỉ chú ý mấy chữ sau mà không quán xuyến toàn câu gồm mấy chữ đầu:

Ít người được xem tấm bảng phong thần.

Bảng phong thần gì vậy? Bảng phong thần “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”! Lối viết văn chữ Nôm xưa không có các loại dấu, nếu ngày nay viết thì sẽ có hai ngoặc kép cho Cụm từ “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”(!), và Cụm từ này là định ngữ của “Bảng phong thần”. Đó là lối phân tích ngữ pháp hiện đại, thời Cụ Đồ chưa có những thuật ngữ đó. Song ai cũng hiểu các Cụm từ như: “bảng phong thần vị quan hết lòng cứu dân”, “bảng phong thần người vợ một lòng thủ tiết”, “bảng phong thần vị tướng dũng cảm trừ giặc”… Và ở đây là bảng phong thần “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc” (nối liền 10 chữ).

Bút pháp xuân thu rất kiệm lời. Nhưng cả câu:

Ít người đặng xem tấm bảng phong thần “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc” này, vì sao vậy? Vì làm gì có? Lúc này Phan học sĩ là người có lỗi, bị triều đình nghị tội, bị vua khiển trách, có được phong thần gì đâu mà có bảng để xem? Đến đời mấy ông vua bù nhìn Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại mới có. Như thế thì thái độ Nguyễn Đình Chiểu có tán thưởng Phan Thanh Giản hay không? Cứ ngẫm nghĩ kỹ sẽ rõ.

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ có ý thức về sứ mệnh của văn chương:

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

“Bút pháp xuân thu” có tác dụng “khiến người ngay phấn khích, kẻ gian run sợ”, nên ông rất chú trọng, và vận dụng vào văn chương rất đắc địa, rất cao tay, chứng tỏ cái tài với cái tâm của ông đều đáng nêu gương thiên cổ”.

Phạm Thị Hảo

Nguồn: Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 463

=====

Mời xem bài liên quan

1. VỀ PHÁT BIỂU CỦA CỐ TT VÕ VĂN KIỆT "30/4 CÓ TRIỆU NGƯỜI VUI, TRIỆU NGƯỜI BUỒN"

2. BA LÝ DO THƯƠNG SẼ ĐẤU TRANH TỚI CÙNG VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI LÚC CUỐI ĐỜI CỦA CỤ VÕ VĂN KIỆT!

3. ĐẠI TÁ NGÔ HỒNG VINH PHÂN TÍCH 3 ĐIỂM HỚ HÊNH CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT ĐỂ NHÓM LẬT SỬ LỢI DỤNG
4.  
NỖI ĐAU VÕ VĂN KIỆT

5. ĐẠI TÁ NGUYỄN KIM KHANH: QUAN ĐIỂM “DĨ HÒA VI QUÝ’ CỦA CỐ THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT LÀ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN!

6. CHÂN LÝ BÁC HỒ- "Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu CNXH"

7. THƯƠNG LIKE VÀ CHIA SẺ STT NÀY ĐỂ MỌI NGƯỜI THẤY RÕ NHỮNG HẬU QUẢ TỪ PHÁT NGÔN SƠ HỞ CỦA CỤ VÕ VĂN KIỆT MÀ THƯƠNG ĐÃ CẢNH BÁO.

8. KẺ NÀO XÉT LẠI LỰA CHỌN XHCN CỦA BÁC HỒ THÌ KẺ ĐÓ CHÍNH LÀ KẺ PHẢN BỘI QUYỀN LỢI DÂN TỘC VIỆT NAM...

9. TRAO ĐỔI VỚI BÁC NHÀ BÁO LÃO THÀNH, ĐÁNG KÍNH DƯƠNG   ĐỨC QUẢNG VỀ CỤ LÊ DUẨN...

10. CẢM ĐỘNG- MỘT DŨNG SỸ QUẢNG TRỊ TỰ VIẾT "GIẤY BÁO TỬ”...

11. Chuyện zui, TRAO ĐỔI VỚI BÁC DƯƠNG VƯƠNG KINH VỀ TÊN TỘI ĐỒ PHAN THANH GIẢN...

12. Hội chứng nguy hiểm- "TRIỆU NGƯỜI VUI, TRIỆU NGƯỜI BUỒN”...

13. VỀ PHÁT NGÔN CUỐI ĐỜI CỦA CỤ VÕ VĂN KIỆT- NHỮNG Ý KIẾN THẤU TÌNH ĐẠT LÝ ...

14. TRUNG TƯỚNG NGUYỄN THANH TUẤN PHÊ PHÁN THIẾU TƯỚNG LÊ VĂN CƯƠNG..

15. TƯỚNG NGUYỄN QUỐC THƯỚC VÀ TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN PHẢN BIỆN GAY GẮT VỚI ÔNG VÕ VĂN KIỆT VỀ VAI TRÒ TỔNG THỐNG NGỤY DƯƠNG VĂN MINH

16. Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG 30.4.1975- SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

17. Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn lý giải: VÌ SAO LỊCH SỬ CHIẾN THẮNG 30/4 VẪN BỊ XUYÊN TẠC?

18. “CỤ NGÔ TỔNG THỐNG” SỐNG LẠI CHẮC SẼ VẢ GẪY RĂNG LŨ LẬT SỬ COI NGỤY SÀI GÒN LÀ QUỐC GIA ĐỘC LẬP!

19. TỪ NAY BẤT KỲ KẺ NÀO NÓI NGỤY SÀI GÒN LÀ 1 QUỐC GIA THÌ ĐÓ CHÍNH LÀ KẺ PHẢN ĐỘNG, MUỐN DÂNG BIỂN ĐẢO CHO TRUNG QUỐC!.

20. ĐẶT TÊN ĐƯỜNG ALEXANDRE DE RHODES Ở TP HỒ CHÍ MINH-  ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐÃ “LÀM TRỘM” TRONG ĐÊM RA SAO?

21. BÁO PHÁP LUẬT TP. HCM XUYÊN TẠC LỜI ÔNG LÊ DUẨN ĐỂ TUYÊN TRUYỀN CHO TƯ TƯỞNG PHẢN ĐỘNG CỦA NGUYỄN DUY..

22. SỐ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG MIỀN NAM GẦN GẤP ĐÔI MIỀN BẮC- SỰ THẬT NÀY BÁC BỎ QUAN NIỆM ‘NỘI CHIẾN QUỐC- CỘNG’ HAY “NỘI CHIẾN NAM- BẮC’ CỦA ÔNG VÕ VĂN KIỆT

23. Giảng bài cho ông Hoàng Duy Hùng về chữ “ngụy”: ĐÒI BỎ CHỮ “NGỤY” TỨC LÀ ÔNG VẪN MUỐN “RỬA MẶT” CHO MỸ NGỤY (VNCH)!

24. GIẢNG BÀI CHO ÔNG HOÀNG DUY HÙNG BẰNG 4 THỨ TIẾNG VIỆT- NGA- ANH- PHÁP

25. Cuối tuần: CÔ GÁI SÀI GÒN ĐI TẢI ĐẠN- Thêm một bài giảng cho Hoàng Duy Hùng

26. Chuẩn bị đón Ngày Lễ 30/4: “CÔ GÁI TƯỚI ĐẬU”- CA KHÚC SAU GIẢI PHÓNG SẼ SỐNG MÃI VỚI THỜI GIAN

27. HOAN NGHÊNH TẠP CHÍ TUYÊN GIÁO SỬ DỤNG LẠI CHỮ “NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN” TRONG BÀI VỀ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

28. CHUYÊN GIA NGUYỄN TRẦN BẠT PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “TRIỆU NGƯỜI VUI- TRIỆU NGƯỜI BUỒN” CỦA ÔNG VÕ VĂN KIỆT

29.  VIỆT NAM NÊN HỌC TẬP NGƯỜI NGA V/V TỔ CHỨC DIỄU HÀNH “Trung đoàn Bất tử”- “Бессмертный полк”

30.  Nghịch cảnh: NGÀY CHIẾN THẮNG 9/5 Ở NGA- TÔI NHỚ TÔI TỰ HÀO> < NGÀY CHIẾN THẮNG 30/4 Ở VIỆT NAM THÌ ÔNG VÕ VĂN KIỆT KHUYÊN: "NHẮC CHI VẾT THƯƠNG THÊM RỈ MÁU"!..

31. DỰNG TƯỢNG TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN, ÔNG VÕ VĂN KIỆT BỊ MẮNG BỞI MỘT NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG VĨNH LONG...

32. CÁC ÔNG VÕ VĂN KIỆT, PHAN HUY LÊ NHẦM LẪN KHI CHO RẰNG NHÀ THƠ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU ĐÃ “KHÓC THƯƠNG” TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN

 ...