Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

MỘT TÀI LIỆU TOÀN CẢNH LẦN ĐẦU TIÊN CÔNG BỐ VỀ SỰ KIỆN 30/4/1975 TẠI DINH ĐỘC LẬP VÀ TẠI ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN!

 

Dương Văn Minh đang ghi âm Tuyên bố đầu hàng. Ảnh Kỳ Nhân- phóng viên hãng thông tấn AP

Lời dẫn: Tài liệu toàn cảnh này chính là Báo cáo của ông Bùi Tùng- Chính ủy Lữ đoàn tăng 203 gửi cho Viện Lịch sử Quân sự đề ngày 30/5/1990. Văn bản này được đánh máy chữ gồm 08 trang giấy poluya (loại giấy sử dụng cho đánh máy chữ, dùng giấy than vào thời điểm 1990). Qua nội dung thư tay của Chính uỷ Bùi Văn Tùng gửi Ông Đào Văn Xuân- Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp (kèm theo văn bản) thì được biết văn bản này là của Chính uỷ Bùi Văn Tùng và chỉ có 02 bản. 01 bản gửi Viện Lịch sử quân sự thuộc Bộ Quốc Phòng và 01 bản gửi ông Đào Văn Xuân có tính chất thông báo, xin ý kiến và để ông Đào Văn Xuân lưu giữ.

Lý do, nguyên nhân tại sao có văn bản này (một dạng báo cáo) từ năm 1990 (Chính uỷ Bùi Văn Tùng nghỉ hưu năm 1984) thì qua bản thư tay của Chính uỷ Bùi Văn Tùng không nhắc đến, và đến nay một người đã trên 90 tuổi, lại bị tai biến nhiều lần, một người thì đã về với tổ tiên nên không tìm hiểu được. Sau khi gửi đi, bản thân ông Bùi Tùng cũng cũng không còn bản lưu giữ.

Rất may là gần đây, một nhóm chiến sỹ - Cựu Chiến binh Tăng thiết giáp đã đến thăm gia đình thủ trưởng cũ – Đại tá Đào Văn Xuân ở tại khu tập thể Quân đội Mai Dịch, thuộc phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy – Hà Nội (Đại tá Đào Văn Xuân đã mất). Nhóm chiến sỹ- CCB này được gia đình cho phép tìm đọc Tủ sách gia đình và họ đã tìm được Tài liệu này, có chữ ký xác nhận ngày nhận tài liệu của Đại tá Đào Văn Xuân cũng như bút tích của Chính ủy Bùi Tùng. Vì tính chất quan trọng đặc biệt của Tư liệu nên nhóm chiến sỹ- CCB này đã mang vào TP Hồ Chí Minh, đến gặp gia đình Chính ủy Bùi Tùng và người thân của Chính ủy Bùi Tùng đã xác nhận đây đúng là bút tích của ông Bùi Tùng.

Được phép của gia đình Đại tá Đào Văn Xuân và gia đình Chính ủy Bùi Tùng, nhóm chiến sỹ CCB đã số hóa Tư liệu (Bản Báo cáo 8 trang đánh máy) và công bố trên mạng. Bản gốc vẫn lưu tại Tủ sách gia đình Đại tá Đào Văn Xuân.

Xin lưu ý, Tư liệu này được làm từ năm 1990. Lúc này chưa ai biết đến cuốn sách "THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - GIỜ KHẮC SỐ KHÔNG” của nhà báo Tây Đức, xuất bản bằng tiếng Đức ở Đức ngay từ tháng 9/1975, chỉ 4 tháng sau ngày 30/4/1975. Ở Việt Nam, mãi đến năm 2007, qua báo chí, cuốn sách này mới được biết đến, chính thức có giấy phép xuất bản và phát hành bằng tiếng Việt năm 2010.

Cũng xin lưu ý thêm, Tư liệu này được viết ra từ năm 1990 nhưng nằm im ở Tủ sách gia đình Đại tá Đào Văn Xuân từ đó đến nay. Vì vậy, tất cả các nhà báo, kể cả ông Đạo diễn đáng kính Phạm Việt Tùng (người vừa cho ra đời Bộ phim tài liệu quý SỰ THẬT TRƯA 30/04/1975) đều chưa biết đến Tư liệu 1990 này.

Nay nhóm chiến sỹ - CCB này cho biết thêm, có thắc mác bản đánh máy (tư liệu trong bài viết này) chắc chắn không phải là người đánh máy chuyên nghiệp, có thể do tự tay Chính uỷ đánh máy (vì tính chất quan trọng của nó). Sau đó có hỏi lại gia đình Chính uỷ Bùi Văn Tùng thì được biết: khi chính uỷ về hưu tại TPHCM có tham gia Hội Cựu chiến binh phường ... Khi đó ông mua về một cái máy chữ và hay tự tay ngồi gõ các báo cáo ...

 Chỉ một chi tiết này thôi cũng nhìn thấy phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ của chính uỷ Bùi Văn Tùng. Ông đã chọn cách im lặng về sự thật của mình (tự tay đánh máy để một bản gửi báo cáo đến viện Lịch sử quân sự, một bản báo cáo thủ trưởng cũ, trực tiếp của mình), ông không khoe khoang, làm ồn ào trên dư luận. 

Vì văn bản dài, gần như tường thuật về sự kiện, nên dẫn lại sẽ chia làm hai phần cho dễ đọc, Phần đầu là Văn bản đã được số hóa, Phần dưới là Văn bản gốc gồm 8 trang đánh máy cùng một vài tư liệu liên quan.

MỘT TƯ LIỆU ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI TỦ SÁCH GIA ĐÌNH ÔNG ĐÀO VĂN XUÂN- PHÓ CHÍNH ỦY BỘ TƯ LỆNH TĂNG THIẾT GIÁP

Dưới đây là Nội dung văn bản:

 ********

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC

                        Thành phố Hồ Chí Minh  Ngày 30 tháng 5 năm 1990

   Kính thưa...

       Về sự kiện trưa ngày 30/4/1975 tại phủ tổng thống ngụy quyền Sài Gòn và tại đài phát thanh Sài Gòn (cũ), với tôi đó là trách nhiệm chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh về chính trị bộ tư lệnh Quân đoàn giao cho và với lương tâm của mình bắt Dương Văn Minh đầu hàng càng sớm càng đỡ tốn xương máu .

     Để đánh chiếm một trong năm mục tiêu quan trọng bậc nhất, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 quyết định lấy Lữ đoàn xe tăng 203 tổ chức thành Lữ đoàn cơ giới đặc nhiệm được phối thuộc thêm I tiểu đoàn bộ binh, I tiểu đoàn pháo binh, I tiểu đoàn pháo cao xạ , I tiểu đoàn công binh dưới sự chỉ huy trực tiếp của bộ chỉ huy lữ doàn với nhiệm vụ: sau khi bộ binh ở Nước Trong mở xong cửa mở, lữ đoàn có nhiệm vụ tấn công trong hành tiến đánh lướt nhanh qua các mục tiêu trên đường tiến công tiến thẳng vào đánh chiếm phủ tổng thống ngụy là nhiệm vụ trước mắt. Nhiệm vụ tiếp sau theo trục lộ 4 cùng các đơn vị bạn tham gia tấn công giải phóng Cần Thơ nếu kẻ thù ngoan cố chạy về phía tây. Theo lệnh quân đoàn chúng tôi phối thuộc cho 3 sư đoàn bộ binh, mỗi sư I đại đội xe tăng để dánh chiếm vòng ngoài từ Nước Trong – Long Thành , Cát Lái – Bà Rịa,Vũng Tàu với chiều dài gần 80 cây số để mở của cho pháo 130 ly vào chiếm trận địa tại Nhơn Trạch và cho lữ đoàn chúng tôi thọc sâu vào Sài gòn theo nhiệm vụ đã quy định. Trưa 29/4 sư đoàn bạn mới mở xong cửa ở Nước Trong nhưng vì không tổ chức truy kích, nên chúng tôi hành tiến đến sông Buông thì cầu đã bị địch phá sập. Lập tức công binh quân đoàn tiến lên sửa chữa cầu. Tại đông cầu sông Buông tối 29/4, đồng chí thiếu tướng tư lệnh Nguyễn Hữu An và đồng chí Đại tá Công Trang phó chính ủy quân đoàn còn tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ cho tôi và đồng chí Nguyễn Tất Tài về công việc đánh chiếm dinh Độc Lập (bài đồng chí Công Trang kể, Hồng Lân ghi, báo QĐND số 5389 ngày 30/4/1976) và liên tiếp có mệnh lệnh trên điện đài và bằng giấy (có bản sao chụp kèm theo) theo dõi cuộc tấn công trong hành tiến của chúng tôi mà nhiệm vụ được giao từ đầu .

   Khi tiến qua cầu sông Đồng Nai chúng tôi gặp đồng chí Tống Viết Dương chỉ huy đặc công miền (B2) đang chiếm giữ các cầu trên xa lộ, đề nghị đồng chí Tài cho đặc công lên xe tăng cùng tham gia chiến đấu vì các đồng chí rất thạo đường sá ở Sài Gòn. Chúng tôi đồng ý. Chúng tôi là quân cơ động của Bộ hoạt động ở chiến trường Quảng Trị, nay tấn công vào một thành phố lớn trong tay của lữ đoàn trưởng chỉ có một bản đồ cũ do quân đoàn phát cho, đường sá thay đổi nhiều, xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa không có trong bản đồ. Khi lữ đoàn chúng tôi tham gia giải phóng Đà nẵng, tôi có xin được bản đồ lộ trình xe buýt Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định, nên trong mệnh lệnh tấn công vào Sài Gòn tất cả cán bộ chiến sỹ trong lữ đoàn đều hiểu rõ: ‘Đến ngã tư Hàng Xanh quẹo trái theo đường Hồng Thập Tự (Xô Viết Nghệ Tĩnh ngày nay) đánh chiếm 7 ngã tư quẹo trái là dinh Độc Lập.

      Trên đường hành tiến chúng tôi bị đánh chặn tại Long Bình, ngã ba Vũng Tàu. Chúng lại dùng pháo bắn chặn dọc đường. Chúng tôi phải cho xe tăng vào đánh chiếm trường Thủ Đức (Trường Cây Mai). Tại đó bộ đội xe tăng đánh rất dũng cảm chiếm được khu vực trường và xe tăng 707 đã đánh địch đến viên đạn cuối cùng và hy sinh đến người chiến sỹ xe tăng cuối cùng. Nhân dân khu vực này đã chôn cất và lập đền thờ anh em (Xã Tăng Nhơn Phú anh hùng). Trận chiến đấu ác liệt nhất là trận đánh chiếm và vượt cầu Sài Gòn. Chúng tôi nhận lệnh của tư lệnh quân đoàn là phải nhanh chóng chiếm và vượt cầu với bất cứ giá nào, không để địch đánh sập cầu. Tiểu đoàn I xe tăng dẫn đầu đội hình ra lệnh hai xe tăng T54 đi đầu tăng tốc độ vượt cầu.Cả hai xe tăng của ta đều bị chiếc xe tăng M 48 của địch đứng bên tây vòm cầu bắn cháy (cầu Sài Gòn cong nên phía đông cầu chỉ nhìn thấy tháp pháo nhỏ của xe tăng địch). Chúng tôi ra lệnh cho tiểu đoàn I triển khai đội hình để bắn địch bên kia cầu và tàu chiến của chúng trên sông Sài Gòn. Bộ binh phối thuộc cho lữ đoàn cũng cùng tham gia chiến đấu. Đồng chí tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn I Ngô Văn Nhỡ mở cửa nắp xe đứng thẳng người dùng điện đài và cả ký hiệu bằng tay chỉ huy bắn chi viện và vượt cầu. Một loạt đạn bên kia cầu bắn qua trúng đồng chí và đồng chí ngã gục hy sinh trên tháp pháo xe tăng. Đồng chí Trần Minh Công lữ đoàn phó kiêm tham mưu trưởng lên chỉ huy vượt cầu. Khi xe thiết giáp của tôi tiến cách cầu 2,3 trăm mét,tôi nhìn về phía sau thấy đồng chí Hoàng Đan phó tư lệnh quân đoàn và đồng chí Nam Long phái viên của Bộ ngồi phía sau xe của tôi. Các đồng chí bỏ xe con và leo lên xe thiết giáp chỉ huy của tôi ở Thủ Đức hay ở cầu Rạch Chiếc nhưng tôi không biết. Đơn vị chúng tôi vừa có một xe thiết giáp chỉ huy do lữ đoàn phó Trần Minh Công chỉ huy vừa bị trúng đạn của địch ở cầu nhưng nhẹ còn chiến đấu được, một cán bộ công binh của quân đoàn hy sinh, số anh em phụ trách điện đài vừa hy sinh vừa bị thương. Tôi biết anh Hoàng Đan và Nam Long đi không đúng vị trí chỉ huy, nếu các anh có việc gì tôi phải chịu trách nhiệm, nên tôi mời các anh xuống xe lập sở chỉ huy ở đó. Tại cầu Sài Gòn sau một đợt chiến đấu ta đã bắn cháy chiếc xe M 48 ở tây vòm cầu. Lửa khói và đạn cháy nổ trong xe bao phủ cả một đoạn cầu nơi chiếc xe đang cháy.Do cầu rộng đồng chí Công đã khéo léo cho đại đội xe tăng của đại đội trưởng Bùi Quang Thận vừa chiến đấu vừa vượt qua khói lửa và đạn đang nổ để chiếm cầu, vì lửa và đạn nổ trong xe không ảnh hưởng gì đối với xe tăng T 54 của chúng ta. Sau đó đội hình cả lữ đoàn của chúng tôi vượt qua cầu. Địch một số rút chạy về ngã tư Hàng Xanh bắn chặn ta. Tại đây ta bắn cháy một xe tăng của địch. Địch lại chặn ta tại cầu Thị Nghè và cũng tại đây ta bắn cháy một xe tăng M 41 và một xe M 113 của địch. Tuy mệnh lệch đã chỉ rõ đường vào dinh tổng thống ngụy quyền, nhưng trên xe có đặc công và biệt động chỉ đường nên chúng tôi tiến đánh dinh Độc Lập bằng hai hướng: theo đường Thống Nhất (đường Lê Duẩn ngày nay) và đường Hồng Thập Tự. Dẫn đầu là hai xe tăng,xe 843 do trưởng xe Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và xe 390 do trưởng xe chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn. Đến cách dinh Độc Lập độ ba, bốn trăm mét pháo thủ số I xe 843 Thái Bá Minh thấy cờ vàng ba sọc đỏ vẫn đang bay trên nóc dinh Độc Lập chưa có dấu hiệu gì đầu hàng nên đề nghị trưởng xe cho bắn pháo. Khi phổ biến mệnh lệnh ở nhà chúng tôi đã nói rõ với đơn vị là theo chỉ thị của cấp trên đánh vào Sài gòn cố gắng với sự tổn thất nhỏ nhất, nên Bùi Quang Thận đã bình tĩnh hô tạm ngừng và ra lệnh lái xe Lữ Văn Hòa tăng tốc độ đã cùng đã cùng với xe 390 húc đổ cánh cổng sắt trước dinh tiến thẳng sát thềm nhà. Đoàn xe tăng tiến thêm mấy chiếc nữa vào dinh còn chạy theo các đường bao quanh phủ tổng thống ngụy. Thận và một số chiến sỹ nhẩy xuống xe, Thận cầm theo lá cờ cắm trên xe lao nhanh lên cầu thang,không mở được cờ ngụy nên đã xé rách diềm cờ và kéo cờ của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt nam lên. Lá cờ sao vàng nửa đỏ nửa xanh mà chúng tôi đã phát cho từng chiếc xe tăng làm ký hiệu và sẽ cắm nơi mục tiêu mình chiếm lĩnh .

 Lúc này người chỉ huy có cấp hàm và chức vụ cao nhất của quân đội ta tại dinh độc lập là đồng chí trung tá Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng và trung tá Bùi Văn Tùng chính ủy lữ đoàn (chế độ hai thủ trưởng). Nên mọi việc tại dinh phải trật tự nhất nhất theo kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến trường, các cấp dưới thuộc quyền và phối thuộc đều phải chấp hành theo mệnh lệnh của chúng tôi, mặt khác để quân ngụy thấy rõ kỷ luật của quân đội cách mạng. Đồng chí Phạm Duy Đô quyền đại đội trưởng đặc công theo các xe tăng dẫn đầu vào trước, thấy chúng tôi vào ra báo cáo “Chính phủ ngụy và cả Dương Văn Minh đều ở trong dinh, mời các thủ trưởng vào giải quyết. Thấy chúng tôi vào Dương Văn Minh nói ngay “chúng tôi chờ các ông vào để bàn giao”. Tôi bực mình nói ngay: “Các ông chẳng còn gì để mà giao, chỉ có một việc là đầu hàng không điều kiện”

     Lúc này đồng chí Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng, Trần Minh Công, Dương Xuân Tụ lữ đoàn phó lo việc điều chỉnh đội hình quanh dinh để phòng địch phản kích, phái một bộ phận ra giải phóng cảng Sài gòn. Đồng chí Lê Minh, chủ nhiệm chính trị lữ đoàn lo việc trong dinh và chờ cấp trên vào báo cáo. Tôi thường xuyên được thông báo cấp trên nên biết rằng năm cánh quân đang tiến vào Sài Gòn vì đâu đâu cũng nghe tiếng súng nổ gần, miền Tây Nam Bộ và các đảo chưa giải phóng, nên việc đầu tiên là phải đưa tổng thống ngụy đi đầu hàng không điều kiện càng đỡ tốn xương máu. Tôi hỏi một người đứng cạnh Minh (sau tôi mới biết đó là Nguyễn Hữu Hạnh): “Đường dây ra đài phát thanh còn dùng được không?”. Người ấy nói: “Thưa ông hư rồi” (Thật ra sau này tôi mới biết là bên đài phát thanh họ chạy hết). Tôi nói với Dương Văn Minh:“Anh phải ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng không điều kiện”. Người ấy nói: “Thưa ông,đại tướng ra ngoài sợ phe đối lập ám hại”. Tôi nói thẳng: “Cả thành phố Sài Gòn quân giải phóng đã tràn ngập, Dương Văn Minh đi là đi với chúng tôi”. Dương Văn Minh ưng thuận. 

Tôi định đi bằng hai xe thiết giáp, nhưng như các đồng chí đều biết, xe chiến đấu của chúng ta đồng thời cũng làm nhiệm vụ hậu cần xoong nồi lủng củng, chậu và ra đường lúc này không tiện. Có một cán bộ rất trẻ đề nghị (I): “Hay là ta đi bằng hai xe jeep”. Tôi đồng ý. Đồng chí cán bộ trẻ và một hai bộ đội ta cùng với Minh Mẫu lên xe đầu. Tôi cùng hai chiến sỹ lên xe sau. Thấy xe rộng một người thấp, đầu hình như búi tó, nói tiếng Việt rất sõi xin đi tôi cho lên xe, tôi tưởng là phóng viên người Nhật (sau này anh Thành Tín, tức Bùi Tín cho tôi biết đó là Hà Huy Đỉnh nhà báo ở Sài Gòn). Một người Âu nói tiếng Pháp hỏi tôi biết tiếng Pháp không. Tôi nói tôi biết. Người ấy tự xưng là người Tây Đức sẽ nói tốt cho quân cho quân giải phóng xin đi, tôi cho lên xe và bu theo một vài nhà báo phương tây nữa. 

Đến đài phát thanh không một bóng người, tôi đang lo sợ không hoàn thành được việc. May sao có mấy sinh viên, thanh niên (sau này người ta gọi là thanh niên sinh viên 30 tháng 4) thấy có Dương Văn Minh họ chạy lại. Tôi hỏi: “Các anh có biết nhân viên đài phát thanh họ chạy nấp ở đâu không ?”. Một anh trả lời: “Họ còn làm việc hồi chín giờ, nghe xe tăng quân giải phóng vào họ chạy nấp gần đây thôi, chú giải phóng yên tâm, chúng em sẽ tìm họ được ngay”. Tôi nói tiếp: “Các em cố gắng tìm họ về ngay …( Đoạn này bị mờ không rõ chữ )

Tôi , Minh , Mẫn , anh em bộ đội đi kèm theo Minh và các nhà báo vào một căn phòng hơi hẹp ở đài phát thanh. Tôi và Minh ngồi trên trên một chiếc ghế đệm dài. Sau nhiều đêm mất ngủ, người thấm mệt, tôi bừng tỉnh người toát đầy mồ hôi, nghĩ: “Chết mẹ, nếu Minh nói trên đài không đúng ý đồ của mình thì nguy to vì mình phải chịu trách nhiệm” . Tôi liền quay sang Minh nói: “Anh tuyên bố đầu hàng không điều kiện là phải theo những điều kiện của chúng tôi”. Minh nói: ‘Thưa ông, ông muốn những điều kiện như thế nào xin ghi cho’. Tôi lại phải vắt óc suy nghĩ cách mạng sống chết chỉ có hai vấn đề cơ bản là quân đội và chính quyền, lúc này không được dài dòng. Sẵn tập pơ-luya xanh nhạt trên bàn tôi lấy một tờ thảo chữ viết bằng bút máy bi to và rõ. Thảo xong (2) tôi đưa cho Minh. Minh xem xong và nói: “Thưa ông, đề nghị ông bỏ hai chữ tổng thống”.Tôi hỏi lại: “Anh lấy cương vị gì để ra lệnh cho sỹ quan và binh sỹ anh hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện và anh đứng cương vị nào để giải tán được chính quyền của anh từ trung ương đến địa phương, phải là người cầm đầu của chính quyền này chứ, mà theo tôi biết người cầm đầu của chính quyền này là tổng thống?”. Minh nói: “Đúng, đúng! Ông nói đúng, nhưng thưa ông tôi không thích cái tổng thống này , dân chúng và binh sỹ họ cũng không thích tổng thống này, chỉ cần để đại tướng là họ sẽ nghe theo tôi”. Tôi bực mình và nghiêm sắc mặt nói với Minh: “Anh chỉ có sỹ quan và binh sỹ của anh thôi. Anh nói anh không thích tổng thống này là không đúng. Chính anh đã nhận tổng thống từ tay Trần Văn Hương và anh đã làm tổng thống ba ngày rồi, tại sao anh nói anh không thích?”. Đuối lý , Minh chịu. Tôi lại bảo: “Đây là những điều kiện của chúng tôi,còn lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của anh thì anh phải ghi lại”. Trong khi Minh đang chép lại lời đầu hàng, tôi lại nghĩ có kẻ đầu hàng thì phải có người chấp nhận đầu hàng, nếu không dân chúng tưởng do lòng tốt của Minh và tự Minh đơn phương đầu hàng, chứ không phải do ta đánh tận vào sào huyệt và bắt chúng phải đầu hàng. Nên tôi lấy giấy thảo tiếp. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một chiến dịch rất lớn, nhiều quân đoàn tham gia và rất nhiều cấp tướng chỉ huy. Còn tôi chỉ là trung tá chính ủy cấp lữ đoàn nên tôi chỉ ghi: “Tôi thay mặt quân giải phóng Miền nam Việt nam, đơn vị đánh chiếm dinh Độc Lập long trọng tuyên bố thành phố Sài gòn đã hoàn toàn giải phóng, chấp nhận sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh tổng thống chính quyền Sài Gòn(3)”. Cơ quan chính trị của chúng tôi cũng có máy ghi âm nhưng không vào kịp,phải mượn máy ghi âm của nhà báo Tây Đức. Pin yếu,t ìm pin mới trong đài phát thanh để thay. Minh lúc đầu nói chưa gãy gọn, xóa ghi lại. Khi hai lời phát của Minh và tôi máy đã ghi âm xong thì nhân viên đài phát thanh đều chạy về và họ vui vẻ làm việc. Tôi hỏi máy móc có hư hỏng gì không. Anh chị em trả lời máy phát tốt nguồn điện được. Họ đưa chúng tôi xuống phòng bá âm có kính ngăn đôi. Kỹ thuật viên ra lệnh im lặng, chúng tôi chứng kiến máy phát đi lời đầu hàng không điều kiện của tổng thống ngụy quyền và lời chấp nhận đầu hàng của tôi - đại diện quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập. Sau đó Vũ Văn Mẫu xin có mấy lời để đồng bào sài gòn yên tâm. Anh chị em trong đài bảo tôi: “Đề nghị chú giải phóng cho cuộn băng có bài hát giải phóng nào để phát kèm theo bản tin này cho rôm rả. Chúng tôi là người lính chiến làm gì có mang theo băng nhạc ,nên tôi nói luôn : “Từ nay đến chiều tối anh chị em ở đài phải phát bản tin này đi lại nhiều lần trên các làn sóng và chiều tối nay đài phát thanh chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền nam Việt Nam sẽ vào, anh chị em muốn gì sẽ có tất cả. Xong việc anh em bộ đội đi kèm Dương Văn Minh từ dinh Độc Lập ra nay lại đi kèm đưa trả về dinh Độc Lập .

    Tôi về đến dinh thì các đồng chí chỉ huy cấp quân đoàn đã vào và đang thảo các mệnh lệnh kế tiếp. Tôi không nghe ai phê phán việc tôi đã làm, chỉ nghe anh em kể lại là anh Công Trang phó chính ủy quân đoàn hỏi: “Ai đưa Dương Văn Minh đi đâu?”. Anh em bộ đội xe tăng trả lời: “Thủ trưởng Tùng đưa Minh ra đài phát thanh buộc tuyên bố đầu hàng không điều kiện”. Ngay chiều hôm đó cục chính trị quân đoàn đến hỏi tôi lấy hai bản thảo. Tôi lục mãi trong túi dết mang tài liệu vẫn không thấy, chắc là mình vứt bỏ sọt rác ở đài phát thanh. May sao tôi thò vào túi quần thì lấy ra hai bản thảo đã vò nhưng chưa nát. Sau đó đồng chí Trần Văn Trà chủ tịch quân quản có hỏi về tôi hai bản thảo, tôi nói đã giao cho cục chính trị quân đoàn 2 rồi .

 Đến năm giờ chiều cùng ngày, chúng tôi được lệnh của quân đoàn giao toàn bộ dinh Độc Lập lại cho quân đoàn 4. Đồng chí Lê Minh giao lại toàn bộ chùm chìa khóa vừa to lại vừa rất nặng. Toàn bộ xe tăng chúng tôi đều rút ra ở trước các vườn cây trước dinh “án binh bất động” vì nhân dân Sài gòn đủ các hạng người cứ bao quanh lấy các xe của chúng tôi. Tối hôm ấy anh em phải ăn lương khô không thể nổi lửa nấu cơm được. Cả ngày 1/5/1975 cũng vậy, người đến trước dinh ngày càng đông. May sao các má ở Sài gòn đã chở lên rất nhiều cơm và thức ăn và dưa cải muối kho với thịt và tôm, tất cả đều cho vào túi nilon trên các chiếc xe lam và cả ngày hôm ấy chúng tôi khỏi phải nổi lửa giữa rừng người trước dinh tổng thống ngụy quyền. Tối 1/5/1975 chúng tôi hành quân về Long Bình theo mệnh lệnh của quân đoàn.Tôi về Long Bình vừa mệt vừa đau bụng quân y cho thuốc kháng sinh thì khỏi (Tháng 10/1975 ra Bắc bác sỹ bệnh viện 108 thấy nguy kịch vì tôi bị viêm ruột thừa mãn tính đã từ lâu, nhiều lần uống kháng sinh nên đã chuyển thành cấp tính phải mổ ngay), tôi đã phải tiếp nhiều nhà báo, nhà văn như anh Thành Tín, Nguyên Ngọc, Duy Kháng, Phạm Thiều, Thanh Tịnh, Tô Minh Nguyệt ..vv.., nhưng tôi không nói gì nhiều, các anh hỏi gì tôi nói nấy. Ba bốn ngày sau đó tại sở chỉ huy quân đoàn đóng ở Thủ Đức (trường Cây Mai ) có cuộc họp quân chính gồm các thủ trưởng, sư, lữ toàn quân đoàn. Trước khi họp đồng chí Nguyễn Hữu An thiếu tướng Tư lệnh quân đoàn nói vui: “Hôm nay giải oan cho đồng chí Tùng” rồi đồng chí ấy nói tiếp: “ Hôm qua tôi đi họp tại Bộ chỉ huy chiến dịch,các đồng chí thủ trưởng ở bộ chỉ huy rất khen đồng chí Tùng giải quyết rất tốt công việc ở dinh Độc Lập. Để thảo chính xác bản đầu hàng cho Dương Văn Minh và dõng dạc đọc lời chấp nhận đầu hàng của người chiến thắng. Các đồng chí trên gửi lời về biểu dương đồng chí Tùng. Cả cuộc họp vỗ tay hoan nghênh lời biểu dương của cấp trên.

   Bác Tôn vào thăm nhân dân Miền Nam, ngày 17/5/1975 tại hội trường Thống Nhất (dinh Độc Lập cũ). Bác thăm quân đội mà đại biểu là các tướng lĩnh của năm cánh quân. Tôi được đồng chí Lê Linh chính ủy quân đoàn cho phép được đi dự và bảo tôi chuẩn bị kể chuyện bắt Dương Văn Minh đầu hàng cho Bác Tôn nghe thời gian từ 5-7 phút không được nói dài vì hội nghị còn nhiều người phát biểu. Hội nghị gồm các đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị và các đồng chí chỉ huy cao cấp của quân đội. Tôi biết thân phận mình là cán bộ có quân hàm thấp nhất nên tìm một góc tối để ngồi. Sau khi Bác Tôn đọc lời khen quân đội, đến đồng chí Nguyễn Bá Phát nói về hải quân đánh chiếm các đảo, đồng chí Lê Văn Tri nói về hoạt động của không quân trong chiến dịch, đồng chí Hoàng Minh Thi đọc lời hứa hẹn của quân đội với Bác Tôn. Tôi cứ tưởng mình nói sau cùng.Thật không ngờ sau khi Bác Tôn đọc lời khen quân đội, đại tướng Văn Tiến Dũng đứng lên hỏi: “Đồng chí Tùng ngồi đâu lên kể chuyện bắt Dương Văn Minh đầu hàng cho Bác Tôn nghe”. Tôi bị động, đỏ mặt lúng túng đứng tại chỗ. Đồng chí Đại tướng lại nhắc: “Không được đồng chí ra giữa này”. Với bẩy phút tôi kể vắn tắt như trong bài viết này. Sau đó, Đại tướng lại bảo tôi : “Đồng chí Tùng đại diện quân đội đến để Bác Tôn hôn quân đội”. Bác thì thấp, tôi thì cao, tôi ôm Bác, Bác ôm chặt tôi hôn tôi và nước mắt tôi chảy ròng. Tôi nghĩ rằng công lao to lớn này thuộc về các anh hùng liệt sỹ người người lớp lớp đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại này. Sau đó đồng chí Lê Đức Thọ mang đến cho tôi một ….. to (chữ bị nhòe, mất) đồng chí ôm hôn và khen tôi. Tôi giữ quả măng cụt ấy mang về tặng đồng chí Nguyễn Tất Tài lữ đoàn trưởng của tôi .

  Tại Long Bình Đảng ủy lữ đoàn họp xét khen thưởng cho cán bộ và chiến sỹ trong toàn lữ đoàn. Các đồng chí nhất trí đề nghị lên trên tặng đồng chí Tài và tôi huân chương quân công hạng 3 trong chiến dịch này. Tôi đề nghị huân chương quân công chỉ nên đề nghị tặng thưởng cho đồng chí Tài lữ đoàn trưởng còn những việc làm của tôi đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của một cán bộ chính trị, nếu các đồng chí có đề nghị tôi chỉ xin nhận đề nghị huân chương chiến công mà thôi. Vài tháng sau đó tôi được Nhà nước tặng thưởng huân chương giải phóng hạng nhất .

   Sự việc trên đay tôi chưa kể cho ai ngoài các nhà báo nhà văn chủ động đến hỏi tôi vì tôi cho việc làm của mình là do trách nhiệm lương tâm và đó cũng là việc bình thường của người Đảng viên, người cán bộ cách mạng.

   Nay các đồng chí muốn biết cuộc chiến đấu của lữ đoàn xe tăng 203 trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 và phần việc nhỏ của tôi làm vào thời điểm trưa hôm ấy, tôi xin kể lại để các đồng chí rõ .                               ***** 

(1) Đồng chí cán bộ rất trẻ đó sau này về đơn vị tôi mới biết đó là Đại úy Phạm Xuân Thệ. Mặt tốt của đồng chí và một số anh em bộ đội ta là lúc nào cũng đi kèm sát Dương Văn Minh từ dinh Độc lập ra đài phát thanh và ngược lại, nên tôi đỡ lo vì có việc gì xẩy ra với Minh đã có anh em mình kèm chặt.

(2) ( 3) Hai bản thảo gốc này nhà bảo tàng quân đoàn 2 cất giữ trong kho. Khi anh Trọng ở viện bảo tàng quân đội đến tôi lấy tài liệu, tôi đề nghị anh Trọng lên quân đoàn 2 lấy hai bản thảo gốc đó. Những bản trưng bày tại viện bảo tàng quân đội, Viện bảo tàng cách mạng TP Hồ Chí Minh và những nhà bảo tàng khác là những bản sao chụp…..( mất chữ )…

   Người viết

                                       Bùi Văn Tùng 

Dưới đây là Bản gốc:












Hoàng Ngân Thương Giới thiệu
=====

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2021

“SỰ THẬT TRƯA 30/4/1975”- TRUNG TƯỚNG PHẠM XUÂN THỆ ĐÃ NÓI DỐI 5 LẦN!

Chính ủy Bùi Tùng cùng đại úy Phạm Xuân Thệ dẫn giải ông Dương Văn Minh ra đài phát thanh (Hình cắt ra từ clip)

Mời xem Phim Tài liệu (Mở link dưới): 

SỰ THẬT TRƯA 30/04/1975

Nhà báo chiến trường, nghệ sĩ ưu tú Phạm Việt Tùng, nói về con đường 46 năm đi tới bộ phim “Sự thật trưa 30/4/75”.

Chấm dứt cuộc tranh cãi kéo dài 46 năm.

Bộ phim Tài liệu điều tra “Sự thật trưa 30/4/75” do Nhà báo, nghệ sĩ ưu tú Phạm Việt Tùng đạo diễn, vừa được trình chiếu vào dịp 30/4/2021 đã gây xôn xao dư luận.

PV: - Thưa đạo diễn Phạm Việt Tùng, ông nói ông đã phát hiện trung tướng Phạm Xuân Thệ nói dối 5 lần?

Nhà báo Phạm Việt Tùng: Đúng vậy.

Ông Phạm Xuân Thệ đã nhận mình là người soạn thảo tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Sài Gòn Dương Văn Minh đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn vào trưa 30/4/1975. Sự thật là người soạn thảo bản tuyên bố đầu hàng và kêu gọi tướng lĩnh và binh lính Việt Nam Cộng hòa buông vũ khí ngừng chiến là ông Bùi Văn Tùng, lúc đó là trung tá, chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203. 

Để che giấu sự nói dối này, trung tướng Phạm Xuân Thệ đã tiếp tục 4 lần nói dối. Và chúng tôi đã phải đi lần tìm theo lịch sử, làm nhiều bộ phim tài liệu về sự kiện này cho đến khi tôi hoàn toàn chứng minh được ông Thệ nói dối.

Từ trước năm 2000, tôi đã được nghe những người lính tăng phàn nàn về việc đại úy Phạm Xuân Thệ, một Trung đoàn phó trung đoàn bộ binh 66 phối thuộc trong cuộc tiến quân vào Sài Gòn và có mặt tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 lại cứ nhận là mình thảo bản tuyên bố đầu hàng. Trong khi thủ trưởng của họ, khi đó là trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy của Lữ đoàn xe tăng 203, đơn vị tiên phong của Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, mới là người thực sự soạn thảo tuyên bố đầu hàng. Những người lính này đã được chứng minh là những người tiên phong có mặt, làm nhiệm vụ bảo vệ cho đầu não cán bộ của bên ta, những lời nói của họ khiến tôi lưu ý.

Ngày 20/11/2004, tôi đến gặp Đại tá Bùi Văn Tùng, lúc đó đã nghỉ hưu ở TP Hồ Chí Minh. Đại tá Bùi Văn Tùng có đưa tôi xem một bức thư của ông Nguyễn Tất Tài, tư Lệnh Lữ đoàn 203 gửi cho ông từ năm 1996, phàn nàn về việc trong một cuộc họp của Quân đoàn 2 nói chuyện lịch sử về ngày 30/4, trong đó ông Phạm Xuân Thệ đã nói cứ như ông ấy là người chỉ huy chiến dịch. Ông Bùi Văn Tùng đã giữ bức thư đó gần 10 năm, nhưng cũng không lên tiếng về những gì ông Thệ nói. Tôi đã giữ bức thư đó cho đến tận bây giờ. Bắt đầu từ năm 2005, tôi bắt tay vào đi tìm sự thật về việc ai là người soạn bản tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống Sài gòn Dương Văn Minh.

Chính ủy Bùi Tùng dẫn giải Dương Văn Minh ra đài phát thanh (Hình cắt ra từ clip)

Khi tôi đến gặp ông Phạm Xuân Thệ, cùng với ông Trần Gia Thái, khi đó là giám đốc Đài PT&TH Hà Nội, tôi phát hiện ông Thệ đã nói dối. Ông Thệ không công nhận ông Bùi Văn Tùng có mặt ở Dinh Độc Lập tại thời điểm đó.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ đang nói dối các nhà báo

Ông Thệ bảo phải đến 30 phút sau ông mới biết ông Bùi Văn Tùng. Ông Thệ nói: Sau khi áp giải Tổng thống Minh cùng nội các Sài Gòn đến Đài Phát thanh, khoảng 20-30 phút sau ông Tùng mới có mặt tại Đài. Ông Tùng hỏi tôi “Anh là ai?”. Tôi nói “Tôi là đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó trung đoàn E66...”. Đó là điều thứ nhất ông Thệ nói dối.

Sau này Tổng cục Chính trị đã xác nhận ông Bùi Văn Tùng có mặt ở Dinh Độc Lập. Ở một nơi nghiêm túc như buổi tiếp nhận đầu hàng và chuyển giao quyền lực ở trung tâm chính trị đầu não của một chế độ như Dinh Độc Lập, việc làm của những nhân vật cao cấp hàng đầu luôn thu hút được sự chú ý của tất cả mọi người, được canh gác nghiêm ngặt, cẩn mật và có thứ tự trên dưới. Ông Bùi Văn Tùng có thể không biết hết được những người cấp dưới của ông là ai, nhưng không thể có chuyện những cấp dưới, cấp thấp hơn ông ở xung quanh đó, lại không biết ông Tùng là ai và có cấp bậc gì, đeo quân hàm gì, đang làm chức năng nhiệm vụ gì được.

Ông Thệ nói văn bản đầu hàng Tổng thống Dương Văn Minh đọc, phát đi trên sóng phát thanh là do ông soạn ra. Nhưng những lời ông Thệ nhắc lại trong bộ phim do TTXVN phỏng vấn ông Thệ so với bản ghi âm lời ông Dương Văn Minh trưa ngày 30/4/75 không giống nhau. Tình cờ tôi được ông Nguyễn Hữu Thái cho biết ông Nguyễn Nhã, một nhà nghiên cứu lịch sử- văn hóa, đã thu âm lại bản phát thanh đó trong lúc đi tản cư nghe được vào trưa 30/4/75. Đó cũng là bản thu âm duy nhất chúng ta có được đến giờ. Ông Nguyễn Nhã đã cho tôi mượn cái băng này và cho phép tôi được sao chép lại làm nhiều bản. Lúc đó tôi chưa thực sự tin ông Thệ “ăn gian”. Đêm hôm ấy, tôi nghe đi nghe lại, tôi thấy nội dung lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh không giống với lời ông Thệ đã nói lúc trước. Tôi phát hiện điều thứ 2 ông Thệ nói dối. Lúc đó, tôi kinh ngạc đến mức không ngủ được. Tôi tin tôi đã tìm ra sự thật thứ 2 bị vùi lấp.

Chúng tôi hiện vẫn còn giữ được ảnh chụp (tại bảo tàng Quân đoàn 2) bản viết tay Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh, nét chữ của ông Bùi Văn Tùng, có cả những chỗ gạch xóa.

Bản viết tay Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh với bút tích của Chính ủy Bùi Tùng hiện lưu ở Bảo tàng Quân đoàn 2

Câu chữ trong bản viết tay này rất khớp với lời tuyên bố đầu hàng của ông Dương Văn Minh đọc đã phát đi trên sóng phát thanh. Trong khi đó ông Phạm Xuân Thệ lại không đưa ra được bản viết tay nào, và lời ông Thệ tự công bố nội dung ông viết cho Tổng thống Minh cũng không khớp gì với Tuyên bố đầu hàng Tướng Minh đã đọc. Bộ Chính sử Nam Bộ kháng chiến do Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm Trưởng ban soạn thảo, thiếu tướng Trịnh Vương Hồng-Viện trưởng viện Lịch sử quân đội đã ký, người chắp bút là ông Hoạt... cũng đã công nhận bản viết tay này là chữ của ông Bùi Văn Tùng, do ông Bùi Văn Tùng soạn thảo. Thế nhưng ông Phạm Xuân Thệ vẫn nhận công trạng này về mình. Đó là ông Thệ nói dối điều thứ 3.

Ông Thệ bảo “Chúng tôi bàn với nhau phân công ông Bùi Tùng”. Nói như thế là ông Thệ không hiểu gì mà lộ ra sơ hở mình nói dối. Vì lúc đó ông Bùi Văn Tùng là Chính ủy Lữ đoàn, người chỉ đứng sau Lữ Đoàn trưởng, người phụ trách về Chính trị cao nhất của phía bên ta ở Dinh Độc Lập lúc đó. Chỉ có ông Tùng mới đủ tư cách là người đối thoại và thực hiện những nhiệm vụ chính trị như thảo văn kiện đầu hàng, rồi tiếp nhận đầu hàng. Mà Lữ đoàn thì là cấp trên của Trung đoàn. Ông Thệ chỉ là Trung đoàn phó một trung đoàn bộ binh phối thuộc, sao đủ tư cách mà đòi phân công cho ông Tùng đi làm việc? Đó là chưa nói đến năng lực, trình độ của một Chính ủy như ông Tùng.

Kỷ luật quân đội là kỷ luật thép, cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng cấp trên. Ông Bùi Văn Tùng là một trung tá. Khi đó, chúng ta xét duyệt phong cấp tá rất khó khăn. Phải là cấp Nhà nước ra quyết định chứ không phải quân đội tự phong hàm cho cán bộ của mình. Một đại úy lại có thể phân công một trung tá đi làm việc, chuyện lạ đời chỉ có ông Thệ nghĩ ra!

Trong một bài báo lưu chiểu quốc tế, ông Thệ nói “Chữ tôi xấu nên tôi đọc cho ông Dương Văn Minh chép”. Ông Dương Văn Minh lúc này là đại tướng, mang tư cách là Tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Dù đã đầu hàng nhưng ông cũng không thể đi làm một việc vô lý là chép theo lời một đại úy phía đối phương. Ông Thệ cũng không đưa ra được bản viết tay mà ông cho là Dương Văn Minh đã “chép lại”. Kho tàng tư liệu lịch sử cũng không giữ được một văn kiện nào như thế cả. Đó là điều thứ tư ông Thệ nói dối.

Thực chất là ông Dương Văn Minh đã đọc đi đọc lại bản viết tay văn kiện đầu hàng do ông Bùi Văn Tùng soạn thảo đó, ông Minh còn đề nghị bỏ chữ Tổng thống, nhưng ông Tùng không đồng ý. Họ tranh luận, sau đó ông Minh đồng ý đọc theo bản ông Tùng viết.

Chúng tôi còn được cung cấp những tư liệu của một nhà báo người Đức là Boerries Gallasch, do bà Alice Kelley Gallasch, vợ ông, tìm đến thăm và tặng lại gia đình ông Tùng đúng dịp 30/4 năm 2010. Đây là mắt xích rất quan trọng trong quá trình phơi bày sự thật ra ánh sáng. Rất nhiều tư liệu và di sản của ông B.Gallasch về ngày 30/4/75 tại Việt Nam đã được bà Alice gửi tặng sau khi bà trở thành bạn của gia đình ông Bùi Văn Tùng.

Qua lời kể của bà Alice Kelley Gallasch, thì Boerries Gallasch là 1 trong 3 nhà báo (đều là người nước ngoài) hiếm hoi có mặt tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/75. Khi đó, ông Gallasch đã xin ông Bùi Văn Tùng cho đi nhờ xe jeep để đến Đài Phát Thanh để kịp ghi lại khoảnh khắc lịch sử tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Sài Gòn và chuyển giao chế độ.

Với ông B.Gallasch, trung tá Bùi Văn Tùng là ân nhân của ông, là ân nhân của cả tuần báo Tấm Gương và tin tức báo chí toàn thế giới vì ông Tùng đã giúp ông B. Gallasch thu thập tin tức và cung cấp kịp thời cho bạn đọc năm châu quan tâm đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Quyết định tình cờ và sáng suốt của Chính ủy Bùi Văn Tùng lúc đó đã giúp thời khắc lịch sử thiêng liêng của dân tộc được đóng dấu, được lắng đọng lại qua những thước phim và ghi chép của một nhà báo người Tây Đức. Bởi khi đến Đài Phát thanh thì Đài không hoạt động vì tất cả đã đi sơ tán. Lời thu âm của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa khi đó đã được thu lại bằng máy catset của nhà báo Tây Đức này rồi cả ông Minh và ông Tùng đều cẩn thận nghe đi nghe lại 3 lần, sau đó mới được phát sóng trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam, yêu cầu toàn bộ tướng lĩnh và binh lính miền Nam ngừng chiến. Chiếc catset này cũng được bà Gallasch tặng lại cho gia đình ông Bùi Văn Tùng.

Trong số tư liệu của ông B.Gallasch còn có bức ảnh ông chụp chung với Chính ủy Bùi Văn Tùng rồi các bức ảnh có mặt ông Tùng cùng với ông Dương Văn Minh tại Dinh Độc lập cũng như tại Đài khi ông Minh đọc lời kêu gọi đầu hàng. Những sự thật ấy không ai có thể chối cãi được.

Bà Alice Kelley Gallasch đã trở thành người bạn thân thiết của gia đình Đại tá Chính ủy Bùi Văn Tùng

Sự thật là ông Phạm Xuân Thệ đã nhận vơ công trạng và ăn gian lịch sử khi tự nhận mình là người soạn thảo văn kiện đầu hàng cho tổng thống Dương Văn Minh. Để bao che cho lời nói dối ấy, ông Thệ đã phải bao biện bằng rất nhiều lời nói dối khác mà càng nói càng hở. Ông Thệ là người sống và làm việc lâu năm trong quân ngũ, không hiểu sao những tri thức tối thiểu như đại úy không thể sai phái trung tá, trung đoàn phó thấp cấp hơn Chính ủy lữ đoàn, binh chủng bộ binh phối thuộc binh chủng tăng thiết giáp (trong một trận tiến công, xe tăng là đội tiên phong, rồi đến bộ binh và các binh chủng khác. Không thể có chuyện binh chủng xe tăng phối thuộc bộ binh)... Những tri thức này mà vị trung tướng quân đội, anh hùng lực lượng vũ trang lại có thể nhầm lẫn cũng là điều lạ kì. Có thể hiểu vì dễ “nhầm lẫn” tri thức tối thiểu đó nên ông Phạm Xuân Thệ mới dễ dàng “nhầm lẫn” sự thật lịch sử, mới để xảy ra câu chuyện thật giả lẫn lộn?

Khi đã chứng minh được ông Thệ nói dối, khi đã tập hợp được tư liệu khá đầy đủ, chúng tôi bắt tay vào làm phim. Một bộ phim chưa thể đột phá vào lớp lớp những thứ na ná sự thật đã bủa vây nhận thức con người trong một thời gian dài. Vậy nên tôi làm nhiều phim. Tôi hợp tác với Đài HTV TPHCM làm phim “Trưa 30/4/1975”. Bộ phim gây ồn ào cả nước.

Trong cuộc họp ngày 12/6/2007, bên nghiên cứu Lịch sử Quân đội nói họ sẽ ghi nhận và trở về báo cáo cấp trên. Nhưng sau đó không có gì thay đổi.

Đạo diễn Phạm Việt Tùng tại buổi làm việc với Viện Lịch sử quân sự  ngày 12/6/2007

Tôi lại làm bộ phim “Chuyện kể về anh bộ đội cụ Hồ”... Và sau khi tư liệu tập hợp đủ đầy, sau mấy chục năm, suy nghĩ thật chín mùi, tôi cùng các đồng nghiệp quyết định làm bộ phim “Sự thật trưa 30/4/75” này. Bộ phim lần này được sự giúp đỡ của rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp của tôi.

PV: Vậy thì mục tiêu theo đuổi đến gần nửa thế kỷ về sự thật lịch sử của ông là gì, thưa ông?

Nhà báo, nghệ sĩ ưu tú Phạm Việt Tùng: Tôi đã nói trước những nhà nghiên cứu lịch sử quân đội và nhiều học giả, “Kinh tế mất đi chúng ta có thể làm lại. Nhưng lịch sử thì chỉ có một thôi”.

Thành quả cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta rất to lớn, cần phải được ghi lại thật cụ thể và chi tiết, nhưng chúng ta chưa làm được một bộ sử xứng đáng. Vì lí do này hay lí do kia, vẫn còn khá nhiều sạn, còn sai sót. Lịch sử phải là sự thật, không thể là “sử giả”, là giả dối. Đó là di sản chúng ta truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Không thể bắt họ vái thứ đồ rởm, ca ngợi nhầm được. Bác Hồ dạy, chúng ta không sợ sai lầm, phát hiện sai thì phải sửa. Một nhà nghiên cứu văn hóa nói “Khi làm cách mạng chúng ta không tránh khỏi có lúc sai lầm. Chúng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta đã dũng cảm sửa sai. Có thế mới khắc phục được hậu quả của Cải Cách ruộng đất 1954, đưa tới xây dựng một hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững chắc làm tiền đề cho chiến thắng giải phóng miền nam 1975. Chúng ta dũng cảm làm công cuộc Đổi mới từ 1986, khắc phục những nhận thức còn sai lầm ấu trĩ, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, ổn định và phát triển theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội Chủ nghĩa, mới có đất nước ta độc lập và phát triển như ngày hôm nay.

Chúng ta biết sửa sai mới có thể khiến dân tin Đảng, đi theo Đảng, gắn bó với Đảng. Cả Hiến Pháp, cả những chính sách lớn của Đảng, của Nhà nước bị sai còn sửa được. Lịch sử có còn chỗ ghi chép lại chưa đúng, vì sao lại không thể sửa?”.

Lịch sử rất quan trọng, là tấm gương cho thế hệ sau soi chiếu. Gương giả thì thì họ soi thế nào? Hậu quả sẽ không thể lường hết được. Sách giáo khoa lịch sử chưa được sửa lại mấy chi tiết này. Tôi mong muốn sau bộ phim này, các nhà viết sử, các nhà giáo dục, những người làm chính sách, hãy rà soát lại thật kĩ những gì chúng ta đã làm, đã viết, để nhặt hết những hạt sạn trong bộ sử vĩ đại về những chiến công của dân tộc ta. Ông Thệ có thế nhầm lẫn nhưng chúng ta không thể để lịch sử nhầm lẫn theo ông Thệ. Ông Thệ có thể nói dối nhưng lịch sử dân tộc thì không thể gian dối theo.

Mong muốn thứ hai của chúng tôi khi làm bộ phim này là những người anh hùng thầm lặng như 4 chiến sĩ trên chiếc xe tăng 390 ngày đó và Chính ủy Bùi Văn Tùng cần được Tổ quốc ghi công, Nhà nước nên trao cho họ những danh hiệu xứng đáng. Đến những người như ông Phạm Xuân Thệ, Bùi Quang Thận đã được phong Anh hùng mà những người thực sự có công đầu, nay đã được chứng minh, mà lại thầm lặng không được ai biết đến thì thật đáng tiếc. Công lao của những người lính xe tăng và nhất là của chính ủy Bùi Văn Tùng là rất lớn trong việc kết thúc chiến tranh và tiết kiệm xương máu. Dù kịch bản đầu hàng trước đó chưa hề chuẩn bị sẵn, nhưng khi tình huống phát sinh, thời cơ đến, ông Bùi Văn Tùng đã kịp thời nghĩ ra và soạn thảo ngay một văn kiện đầu hàng tức thời, yêu cầu ông Dương Văn Minh phải theo mình đến Đài Phát Thanh kêu gọi binh lính ngừng chiến. Hành động ấy không khác gì ông đã bấm nút tắt cho cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm trên toàn cõi nước ta. Hành động ấy cũng góp phần tiết kiệm biết bao xương máu của những người lính giải phóng quân và cả của người lính Việt Nam Cộng hòa, đem lại hạnh phúc cho biết bao gia đình Việt Nam khi được đón những người con ra lính còn được trở về sau ngày thống nhất. Tôi được biết, chỉ riêng ngày 30/4/75 thôi, phía bên ta vẫn có hàng ngàn giải phóng quân ngã xuống, còn chưa kể biết bao người trở về với vết thương chiến tranh. Mất mát gì cũng tìm lại được. Chỉ có mất mát con người thì không gì bù đắp nổi. Chúng ta sẵn sàng hy sinh cho độc lập và thống nhất Tổ quốc. Nhưng nếu có thể tiết kiệm được, vì sao chúng ta không trân trọng?

Bởi vậy tôi nói hành động của Chính Ủy Bùi Văn Tùng lúc đó chính là chiến công có ý nghĩa to lớn và đầy sáng tạo, đầy nhân văn là sự thật. Đó là tư duy của người chỉ huy yêu nước, yêu dân, thương và hiểu lính, hiểu sâu sắc về cuộc chiến tranh. Bởi vậy, trong tâm thức những người lính của ông Tùng, cho đến hôm nay, sau gần nửa thế kỷ, ông không chỉ là một thủ trưởng tuyệt vời, ông chính là một vị anh hùng thật sự, một người lính yêu hòa bình. Nhân dân cũng đòi hỏi chúng ta phải thừa nhận ông Tùng là Anh hùng chính bởi chiến công này. Mặc dù ông Tùng chưa bao giờ lên tiếng đòi lại sự thật, cũng chưa bao giờ ông nói mong muốn mình được phong anh hùng. Đức tính giản dị của anh bộ đội cụ Hồ vẫn khiến ông làm một người lính cống hiến trọn vẹn và an nhàn hưởng tuổi già bên con cháu.

Từ nhiều năm nay, do bị ảnh hưởng của bệnh tai biến, ông đã dần quên rất nhiều thứ, nhiều người. Nhưng đến nay, ở tuổi 92, hàng ngày mọi sinh hoạt phải nhờ người thân chăm lo, Chính ủy Bùi Văn Tùng vẫn cầm tờ báo Quân đội nhân dân để đọc như một thói quen. Thời gian của người anh hùng không còn nhiều. Có thể ông không cần. Nhưng trách nhiệm của chúng ta là phải bù đắp những gì còn thiếu sót, làm những việc chưa kịp làm. Cần phải phong Anh hùng cho Chính ủy Bùi Văn Tùng. Dư luận nhân dân và anh em cựu chiến binh xe tăng ngày ấy mong muốn điều đó. Những người lính trên chiếc xe tăng 390 ngày ấy giờ đã mất đi 1 người cũng tha thiết mong muốn điều đó.

Mong muốn thứ ba của tôi là ông Phạm Xuân Thệ nên xin lỗi lịch sử, xin lỗi Đảng, xin lỗi nhân dân, xin lỗi những người đồng chí đồng đội của mình và xin lỗi ông Bùi Văn Tùng vì đã ăn gian và nhận vơ công trạng, làm thay đổi, sai lệch lịch sử.

 ***

Để ngày 30/4/75 ấy đi vào lịch sử mãi mãi là trang vàng chói lọi và hoàn bích, không một vết mờ. Để chúng ta không phải nuối tiếc vì những gì chưa kịp làm. Thời gian không mãi đợi chúng ta. Chiến tranh đã qua đi từ lâu rồi. Cần phải nhanh chóng hoàn thiện bộ lịch sử để chúng ta có thể khép lại những trang sử ấy và thênh thang bước sang những trang mới.

PV:- Xin cảm ơn ông!

Hải Nguyệt (thực hiện)

=======

Mời xem các bài liên quan:

1. 30/4/1975: ĐIỀU CHƯA SÁNG TỎ VÀ MỘT "ÂM MƯU" BẤT THÀNH

2. Kết: XE TĂNG 390 LÀ XE VÀO DINH ĐỘC LẬP TRƯA 30.4.1975 SỚM NHẤT

3. Đạo diễn, NSUT Phạm Việt Tùng: "CÓ NHỮNG SỰ THẬT 30/4/1975 CẦN LÀM SÁNG TỎ ĐỂ KHÔNG PHẢI XẤU HỔ TRƯỚC LỊCH SỬ

4. “SỰ THẬT TRƯA 30/4/1975”- TRUNG TƯỚNG PHẠM XUÂN THỆ ĐÃ NÓI DỐI 5 LẦN!

Đạo diễn, NSUT Phạm Việt Tùng: "CÓ NHỮNG SỰ THẬT 30/4/1975 CẦN LÀM SÁNG TỎ ĐỂ KHÔNG PHẢI XẤU HỔ TRƯỚC LỊCH SỬ

iọng nói sôi nổi, đầy nhiệt huyết, dáng đi nhanh nhẹn dù đã bước qua tuổi 80, NSƯT-đạo diễn Phạm Việt Tùng vẫn say mê làm phim tài liệu với mong muốn trả lại sự thật ngày 30/4/1975 trong chính sử. Khi đến thăm ông Bùi Văn Tùng, vị đạo diễn xúc động cầm tay người chính ủy, Trung tá lữ đoàn xe tăng 203 năm nào, nghèn nghẹn khi biết ông trải qua 5 lần đột quỵ phải ngồi trên xe lăn, giờ đây ngơ ngác hầu như không nhận ra bạn bè và đồng đội.

Trên tường, nụ cười rạng rỡ, tỏa sáng với gương mặt đầy khí chất của ông Bùi Văn Tùng từng được họa sĩ Lê Sa Long khắc họa, đã thuyết phục người xem hoàn toàn về phẩm chất của một người chỉ huy can trường.

Người chính ủy ấy chấp nhận im lặng, để lịch sử lên tiếng, với một sự khiêm nhường và hiểu biết, bởi theo ông, cuộc chiến đấu này có biết bao nhiêu chiến sĩ quên mình ngã xuống cho đất nước. Những con người tranh công, đổ lỗi chỉ là thiểu số trong quân ngũ, không nên vạch áo cho người xem lưng. Mọi cuộc tranh cãi đều phí sức và là nỗi xấu hổ đối với những con người có lương tri.

Tuy nhiên, đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng vẫn kiên trì theo đuổi việc trả lại đúng tên cho ông Bùi Văn Tùng, người từng ngẫm nghĩ viết ra từng câu, từng chữ để buộc Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 2.

Ngay ngày đầu giải phóng, ông Bùi Văn Tùng từng được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ôm hôn và vinh danh vì vai trò to lớn của ông góp phần kết thúc sớm cuộc chiến tranh tránh đổ máu. Thế nhưng 10 năm sau, có người tự nhận chính mình đã soạn thảo bản thảo nói trên cho ông Dương Văn Minh, bỏ qua hoàn toàn vai trò của ông Bùi Văn Tùng, thậm chí phủ nhận việc ông Tùng có mặt tại Dinh Độc Lập vào đúng thời điểm lịch sử bàn giao cho phía quân giải phóng.

Thế nên, 25 năm qua, đạo diễn Phạm Việt Tùng theo đuổi các nhân vật chính, phỏng vấn các nhân chứng quan trọng của chính quyền hai bên theo lời gợi ý của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Tháng 7/2020, theo gợi ý của nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà sử học Dương Trung Quốc và nhiều đồng nghiệp, ông tập hợp các tư liệu có sẵn để dựng phim "Chuyện thật 30/4/1975".

Ngày 8/4, vị đạo diễn hăm hở chiếu phim cho chiến hữu và bạn bè, đồng nghiệp tại TP.HCM, như một công bố thiết thực cho việc đã đến lúc trao cho ông Bùi Văn Tùng phần thưởng xứng đáng- danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Sau đó, bộ phim tài liệu của ông được chiếu trên YouTube, thu hút hàng triệu lượt xem. Nói về mục đích làm phim, vị đạo diễn chia sẻ: "Tôi chỉ bảo vệ lịch sử cho dân tộc chứ không muốn chỉ trích một cá nhân nào".

Cách đây 51 năm, đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng từng quay được những thước phim tư liệu vô giá. Bộ phim "Hà Nội – Điện Biên Phủ" của ông có cảnh máy bay B52 bốc cháy trên bầu trời Hà Nội, hay phim"Người lính xe tăng 390 ngày ấy" đấu tranh cho 4 người lính trên chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc lập (thay vì là xe tăng 843 như ban đầu ngộ nhận). 

Gần đây nhất, bộ phim "Chuyện thật 30/4/1975" vừa ra mắt (4/2021) khẳng định Trung tá Bùi Văn Tùng mới chính là người thảo bản tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh... tiếp tục gây chấn động trên cộng đồng mạng.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 3.

Nhiều người viết sử vì một lý do nào đấy không muốn nhắc lại vụ tranh cãi ai là người soạn thảo văn bản đầu hàng cho ông Dương Văn Minh đọc vào trưa 30/4/1975, vì sao ông lại luôn muốn xới lên? Phải chăng, từng vào sinh ra tử, quay những thước phim chiến tranh, dẫu khó bao nhiêu cũng không khó bằng việc thức tỉnh lòng người?

- Sự thực, người làm phim cũng như người viết báo trong biển mênh mang sự kiện phải biết chọn cái gì phù hợp với thời điểm. Đúng thời điểm rất quan trọng! Nhân dịp này, tôi muốn nói lại đề tài 30/4, là bởi tuy 46 năm qua đã trôi qua nhưng nhiều người biết lịch sử cận đại của đất nước lại lúc nói kiểu này, lúc nói kiểu khác. 

Tôi sợ rằng nếu không xác định chính xác thì thế hệ chúng tôi - những nhân chứng sẽ già và chết đi, thế hệ trẻ sẽ không biết gì nữa. Dân tộc mình vốn anh hùng và cuộc sống bây giờ khác ngày xưa nhiều lắm. Nếu không nói, các cháu lại không hiểu hết những góc khuất lịch sử. Mà mang thế giới quan ngày hôm nay để soi rọi vấn đề hôm qua lại càng không đúng.

Current Time3:24
/
Duration7:42
Auto

Vì thế, tôi muốn nhắc nhở mọi người về những sự thật lịch sử không được phép lãng quên. Nhưng mỗi ngày 30/4, có đồng chí nọ lại chạy đi khắp nơi thanh minh và nhận vơ là người cắm cờ hay soạn văn bản đầu hàng thì tôi không đồng ý. Tôi chỉ muốn người đã trót nhận vơ đó xin lỗi ông Bùi Văn Tùng. Vì đến với đạo Phật nên tôi không chủ trương hạ bệ một ai. Riêng trong quá trình tiếp xúc và làm phim, ông Bùi Văn Tùng chỉ nói một kiểu. Ông không bao giờ nói sai.

Nếu tôi không đeo đuổi thì còn ai hiểu vấn đề này như chúng tôi? Tiếng nói của ông Dương Văn Minh thời đó không ai ghi âm lại được, chỉ duy nhất Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã kịp thu vào băng cassette, tôi thuyết phục ông cho tôi làm bằng chứng so sánh với bản chép tay của cả ông Bùi Văn Tùng và ông Phạm Xuân Thệ. Kết quả là ông Thệ đã nhận vơ, còn ông Tùng thì có nói lại với cấp trên nhưng không hiểu sao không ai chịu nghe nữa.

Xin ông cho biết, thời điểm 30/4/1975 ông ở đâu?

- Tôi cùng đoàn quân đang tiến về cầu Sài Gòn thì bị vật cản là đồ đạc, ba lô, súng ống…quân đội cũ bỏ lại nên không thể tới Dinh Độc Lập kịp cuộc chuyển giao đó. Nhưng ngay sau thời khắc lịch sử ấy, tôi được quay những thước phim vô giá về Sài Gòn ngày đầu giải phóng.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 5.
Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 6.

Vì sao việc tranh cãi ai soạn bản thảo lại quan trọng đến thế, thưa ông?

- Trong chiến tranh, nếu chúng ta không thảo văn bản đầu hàng thật chuẩn thì sẽ mắc mưu địch. Ông Bùi Văn Tùng từng nói với tôi, lúc đó nếu không ghi ra giấy, để ông Dương Văn Minh nói theo ý mình thì quân ta sẽ dễ bị thất thố và ông phải chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị. Nên ông nghĩ nát óc, làm sao hành văn ngắn gọn nhưng phải bao hàm được tính chất của quân đội – chỉ có Tổng thống mới có quyền hạ lệnh chính quyền giải thể hoàn toàn và quân đội hạ vũ khí. Thế mà trong bản thảo của ông Phạm Xuân Thệ lại ghi là chính quyền hạ vũ khí!

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 7.

Lúc đó tại Dinh còn có dân Cục tình báo cục 2 của ta ở đó nữa. Các anh ấy biết hết nhưng không thay đổi được những gì đã ghi không đúng trong chính sử. 

Chính vì vậy, tôi đến gặp cụ Võ Văn Kiệt nhiều lần, cụ mách nước: "Việc này phải tìm người bên ngoài khách quan, chứ đừng tìm những người trong cuộc. Người ngoài chẳng có quyền lợi gì, đặc biệt là các ông trong chính quyền cũ như Nguyễn Hữu Hạnh và Triệu Quốc Mạnh… Hãy tìm những người đó. Và có bằng chứng trong tay rồi hẵng tuyên bố".

Được lời như cởi tấm lòng, tôi nghĩ ra phân cảnh ông Nguyễn Hữu Hạnh đi thăm ông Bùi Văn Tùng, hai phía thăm lại nhau thì mới có giá trị về mặt tư tưởng. Trong phim có đoạn ông Nguyễn Hữu Hạnh nói rất rõ ông Bùi Văn Tùng là người soạn thảo văn bản đầu hàng cho Dương Văn Minh.

Sau đó, tôi từng tìm đến Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (nay đã mất), ông nói, theo luật quân đội thì ai thuộc cấp cao hơn - người đó là thủ trưởng. Không có chuyện ông đại úy phụ trách ông trung tá của một lữ đoàn được! 

Hơn nữa, ông Bùi Văn Tùng hơn ông Thệ 19 tuổi thì càng không có chuyện được ông Thệ chỉ dẫn, phân công ông thảo lời chấp nhận đầu hàng cho Dương Văn Minh. Còn nếu như nói họ viết xong rồi, đưa cho ông Tùng đọc, thì người cấp cao nhất sửa lại – văn bản vẫn là của người đó. Song ở đây lại khác - sự thật thì chữ viết tay bản thảo là của ông Bùi Văn Tùng!

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 8.

Trong quá trình đào xới lại sự thật, ông có gặp khó khăn nào không?

- Tôi tham gia làm phim này từ năm 1996. Hồi đó, tôi làm phim về chiến sĩ xe tăng. Quá trình làm phim khiến tôi suy nghĩ, tư duy đề tài phải tạo móc xích với nhau. Nhiều người đã làm về đề tài này, phần lớn đều do tôi cung cấp tư liệu cho họ. Cũng có nhiều người ủng hộ, nhưng cũng có những người chỉ… cười, thậm chí né tránh tôi. Có nhiều đài hợp tác làm phim nhưng cũng có không ít nơi từ chối. Đặc biệt, Viện Lịch sử quân sự cũng có không ít hội thảo, nhưng nội dung sai lệch với sự thật.

Trong những lần phỏng vấn nhân vật liên quan, từ ông Bùi Quang Thận đến ông Phạm Xuân Thệ, tôi phát hiện ra họ nói không giống nhau, mỗi lần mỗi khác, chứng tỏ họ nói dối. 

Ông Thận lúc thì bảo là lái xe lách vào và vượt lên chiếc xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập, vào trước ông Bùi Văn Tùng; lúc thì bảo vào sau ông Vũ Văn Toàn lái tăng 390. Còn ông Thệ lúc đầu tranh công treo cờ trên nóc Dinh Độc Lập với ông Thận không được, sau lại nhận là người soạn văn bản đầu hàng cho Dương Văn Minh.

Khi chiếu phim, nhiều người thích thú, cũng nhiều người phản ứng. Nhưng tôi chỉ mong những nhân vật liên quan phản hồi với tôi là đủ. Đến nay chưa thấy ai lên tiếng cả, dù trong các hội thảo, họ cũng từng nêu ngược lại vấn đề.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 9.

Làm 2 bộ phim để trả lời các câu hỏi: Ai là người đầu tiên cắm cờ giải phóng lên nóc Dinh Độc Lập, ai là người viết bản thảo cho Dương Văn Minh đọc và tuyên bố đầu hàng, xe tăng nào đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập? Ông muốn đưa ra thông điệp gì?

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 10.

- Xem phim "Sự thật 30/4/1975" của tôi mới thấy, vì sao ông Bùi Quang Thận lại trả lời mỗi lúc một khác. Điều tôi muốn nói ở đây là sự thật xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước và vì sao có sự tranh công như vậy. Làm phim, tôi dựa vào cuốn Nam Bộ kháng chiến và nhiều nhân chứng khác nữa để củng cố bằng chứng và nói lên chính kiến của mình.

Nói ra một sự thực thì rất khó khăn, nhiều người trót nhận rồi không biết phải làm thế nào. Nhưng tôi chỉ muốn nhấn mạnh một ý mà Bác Hồ dạy chúng tôi. 

Từng phục vụ Bác Hồ lúc còn trẻ, tôi nhớ lời Bác dạy: Chúng ta chỉ sợ biết có khuyết điểm mà không sửa, còn làm là phải có khuyết điểm. Tôi chỉ muốn ông Phạm Xuân Thệ xin lỗi ông Bùi Văn Tùng. 

Và xem xong phim, muốn người xem suy ngẫm, vì con cháu của những người nói dối sẽ phải đối diện với ngàn năm bia miệng. Tôi muốn con cháu tôi biết được một sự thật không thể nói khác.

Ông nghĩ gì về vai trò của ông Dương Văn Minh trong thời khắc lịch sử ấy?

- Cũng may vẫn có những người tử tế như ông Dương Văn Minh! Máy quay của tôi có dịp kề cận sát gương mặt ông. Ông chậm rãi và điềm tĩnh nói: "Hôm nay tôi mừng vì 60 tuổi mới được làm một người dân độc lập của Việt Nam". Câu nói đó làm tôi xúc động. Sau này, tôi còn làm phim tài liệu chiếu trên VTV. Bản dựng chỉ 10 phút, dù phần quay trong ngày giải phóng kéo dài cả tiếng đồng hồ.Tiếc là do khâu bảo quản không tốt, nên nhà đài phá hủy toàn bộ phim lưu trữ.

Thời đó do đói kém, người ta ngâm phim trong nước để lấy bạc bán. Khi đó tôi đã chuyển sang quay phim truyện cho ngành công an, quay trở lại thì mới tá hỏa vì phim gửi kho đã mất hết! Lúc đó tôi như chết đứng. Giờ này tôi chỉ còn cuốn phim 10 phút đó, nhờ thế mới có chi tiết xe tăng nghiến lên cờ 3 que, cảnh người dân Sài Gòn vẫy chào đoàn quân giải phóng. Còn lại mất hết, kể cả phim tư liệu về chiến tranh biên giới phía Bắc.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 11.

Điều gì quyết định ông trở thành người quay phim xuất sắc trong chiến tranh- tinh thần không sợ chết hay ý thức cần làm một điều gì đó vượt ngoài tầm ảnh hưởng của một cá nhân?

- Thực ra, thời đó người ta chịu ảnh hưởng rất lớn từ Bác Hồ, không sợ chết, vì đơn giản nghĩ, "chết thì được phong là liệt sĩ". Cho nên, đời tôi quay được một vài kết quả nhỏ bé, các đồng chí quản lý bảo, "ông này có kinh nghiệm tránh bom đạn". Nhưng thực tế tránh thế nào được bom đạn? Thế là tôi cứ bám trụ ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, Hà Tĩnh..., nơi chiến trường vô cùng ác liệt. Những năm chiến tranh biên giới, tôi tiếp tục đi quay phim với tư cách cá nhân độc lập.

Tại sao tôi chọn công việc nguy hiểm như vậy? Ai chả muốn sống và ai không sợ chết. Nhưng giữa con đường xấu hổ, nhục nhã và con đường liêm chính ngẩng cao đầu, bên nào nên chọn?  Ngày xưa, những ông đi B xong quay ngược trở lại thường bị đeo vào cổ cái biển "Ai cũng như tôi thì mất nước". 

Gia đình tôi thuộc loại nền nếp, nên nếu mình không có sức chiến đấu thì cảm thấy xấu hổ, nhục nhã vì liên lụy đến mẹ và em mình. Nên chúng tôi quyết tâm vào cuộc chiến là phải thắng. Không còn cách nào khác, cho dù tôi có sợ chết, có sợ độ cao, quay cảnh B52 phải trèo lên cao và rất nguy hiểm. Nếu phải lựa chọn thì nhiệm vụ là quan trọng hơn tất cả!

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 12.

Vậy theo ông, đâu là phẩm chất của nhà quay phim chiến tranh?

- Ăn thua chính ở chỗ giữ được phẩm chất của người lính, cho dù không phải không có những phút đấu tranh tư tưởng, bởi nếu không chiến thắng nỗi sợ chết thì không có những hình ảnh ngày hôm nay. Như lúc quay B52 cháy trên trời Hà Nội, chả biết bom có rơi trúng hay không, tôi phải canh ở cả hai phía, khi người phụ quay bảo đằng này thì tôi cứ bấm cho máy chạy, may là hình ảnh máy bay lọt vào khung hình.

Hồi chiến tranh biên giới phía Bắc, tôi lên mặt trận Cao Bằng. Lúc đó quân Trung Quốc rất đông, bao vây chúng tôi, tôi e có nguy cơ bị bắt làm tù binh cùng các tay quay phim đài phát thanh. May mà quân ta thổi được quả rocket, quân địch thần hồn nát thần tính bỏ chạy. 

Lúc đó, chúng tôi quay lui, nhưng càng chạy càng chậm vì đói lả, khát khô cổ họng. Những lúc đó, dường như không còn sợ hãi mà chỉ thấy mình thật may mắn sống sót.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 13.

Được biết, ông từng có dịp tiếp xúc với các cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc và bảo vệ quyền lợi của Anh hùng La Thị Tám, cũng như tranh đấu cho các chiến sĩ xe tăng 390 - những người anh hùng thực sự lúc họ bị tranh công, bị cả nước lãng quên và sống trong nghèo đói…

- Lúc đó, vai trò của tầng lớp thanh niên xung phong (TNXP) chưa được coi trọng. Tôi phải bỏ ra một thời gian đi đấu tranh cho cô La Thị Tám được công nhận là anh hùng. Là bởi, tôi thấy TNXP khổ nhất. Thời đó, tôi từng gặp và tiếp xúc với 10 cô gái Đồng Lộc, nhưng vì công việc, phải tiếp tục quay phim, khi quay trở ra ghi hình các côthì tất cả đã hy sinh. Nhìn thấy những hố bom sâu hoắm mà tôi vô cùng đau xót.

Tôi nghĩ, đất nước mình nên quan tâm những con người quên mình quả cảm như thế mà hiện nay vẫn rất khổ. Kết thúc chiến tranh, tôi rất thương các chiến sĩ lái xe tăng. Tôi về quê họ, đi đánh giậm với họ. Cuộc sống của họ hồi đó rất vất vả. Đến giờ, họ vẫn biết ơn tôi, coi tôi như người anh, vì đã đấu tranh đòi sự thật cho họ. Tuy nhiên, điều tôi trăn trở mãi, là những người đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc Lập năm nào làm gì có lương hưu!

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 14.

Có những sự thật phải trả giá vì người ta dám nói những điều họ thấy là đúng. Còn ông thì sao?

- Tôi yêu thương người dân và luôn đứng về những người yếu thế, cần bảo vệ, cần lấy lại công bằng cho họ. Dĩ nhiên đi đến đâu, cũng có người e ngại tôi. Và chuyện trả giá là có. 

Ví dụ, khi tôi làm phim xe tăng 390, hai vợ chồng lục đục suốt 6 tháng vì vợ tôi không đồng ý cho tôi làm những bộ phim rắc rối ấy. Bà nói, mình chẳng được gì mà còn làm con cái khổ. Thế nhưng, vốn dĩ là người từng phục vụ Bác Hồ, tôi học được ở Bác rất nhiều, dù có phải chết cũng không sợ, cũng phải nói thẳng ra sự thật.

Ngoài chuyện tôn trọng sự thật, theo tôi nghĩ, lý tưởng mà người làm báo theo đuổi còn là sự trung thực. Đừng để dân thù hằn, ai oán vì mình làm sai mà không dám nhận sai.

Các bộ phim đoạt giải của ông đều mang tính phản biện cao. Theo ông, tính phản biện quan trọng ra sao đối với loại hình phim tư liệu?

- Không phản biện làm sao giúp người viết sử? Tôi nói gì cũng phải lý giải. Làm phim này, tôi phải tự bỏ tiền túi của tôi. Kể ra cũng tốn kém lắm. Tôi tập hợp tất cả vào bộ phim để nói lên một sự thật có nhiều người ghét, nhưng cũng có nhiều người thương bởi chả có sự thật nào bị che giấu mãi được.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 15.

Xin ông nói thêm về nữ nhà báo Pháp từng chụp bức ảnh xe tăng 390 tiến vào Dinh Độc Lập và cơ duyên ông gặp được bà?

- Ngày đó, sau 20 năm giải phóng miền Nam, có 1 nhân viên Bộ Ngoại giao đến phòng tranh của bà Francoise de Mulder ở Pháp. Tại đây, ông nhìn thấy bức ảnh xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập, không giống hình của ta (vốn là hình do Trần Mai Hưởng dựng lại). Lúc đó, chưa có người Việt Nam nào quay lại được những hình ảnh đầu tiên ấy. Bà nói chỉ riêng bà có bức ảnh đó, "còn tất cả những gì các ngài có là đồ dỏm".

Khi được Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm mời đến Việt Nam, bà xin tặng lại bức ảnh với điều kiện cho bà gặp 4 anh hùng xe tăng giữa đời thường. Lúc bà sang, nhiều sự thật từ từ phơi bày… Khi gặp được bà, chúng tôi tìm ra 4 người lính xe tăng năm nào và trả lại đúng giá trị lịch sử của chiếc xe tăng 390 đã tiến vào Dinh Độc Lập đầu tiên nhưng bị người khác tranh công.

Cuộc đời qua con mắt của một người đi qua hai cuộc chiến, để lại những thước phim vô giá…

- Cuộc đời bao giờ chả có đấu tranh, đấu tranh để trở thành một con người tốt, loại bỏ dần cái xấu. Tôi nuôi dạy con cái trở thành những con người tử tế và đó là hạnh phúc lớn nhất của một người cha.

Xin trân trọng cảm ơn đạo diễn Phạm Việt Tùng về cuộc trò chuyện thẳng thắn này.

Đạo diễn, NSƯT Phạm Việt Tùng: “Có những sự thật 30/4/1975 cần làm sáng tỏ để không phải xấu hổ trước lịch sử”  - Ảnh 16.

 Mời xem các bài liên quan:

1. 30/4/1975: ĐIỀU CHƯA SÁNG TỎ VÀ MỘT "ÂM MƯU" BẤT THÀNH

2. Kết: XE TĂNG 390 LÀ XE VÀO DINH ĐỘC LẬP TRƯA 30.4.1975 SỚM NHẤT

3. Đạo diễn, NSUT Phạm Việt Tùng: "CÓ NHỮNG SỰ THẬT 30/4/1975 CẦN LÀM SÁNG TỎ ĐỂ KHÔNG PHẢI XẤU HỔ TRƯỚC LỊCH SỬ

4. “SỰ THẬT TRƯA 30/4/1975”- TRUNG TƯỚNG PHẠM XUÂN THỆ ĐÃ NÓI DỐI 5 LẦN!