(Ký kết ngày 10 tháng 12 năm 1982)
CÁC QUỐC GIA THÀNH VIÊN CỦA CÔNG ƯỚC
Với lòng mong muốn giải quyết, trên tinh thần hiểu biết và
hợp tác với nhau, mọi vấn đề liên quan đến luật biển, và ý thức được tầm vóc
lịch sử của Công ước là một cống hiến quan trọng vào việc giữ gìn hòa bình,
công lý và tiến bộ cho tất cả các dân tộc trên thế giới;
Nhận thấy rằng, những sự kiện mới nảy sinh kể từ các Hội
nghị của Liên hợp quốc về luật biển được nhóm họp tại Giơnevơ năm 1958 và năm
1960, đã làm tăng thêm sự cần thiết phải có một Công ước mới về luật biển có
thể được mọi người chấp nhận;
Ý thức rằng, những vấn đề về các vùng biển có liên quan chặt
chẽ với nhau và cần được xem xét một cách đồng bộ;
Thừa nhận rằng, điều đáng mong muốn là, bằng Công ước với sự
quan tâm đúng mức đến chủ quyền của tất cả các quốc gia, thiết lập được một
trật tự pháp lý cho các biển và đại dương làm dễ dàng cho việc sử dụng công
bằng và hiệu quả những tài nguyên, việc bảo tồn những nguồn lợi sinh vật của
các biển và các đại dương, việc nghiên cứu, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;
Cho rằng, việc thực hiện các mục tiêu này sẽ góp phần thiết
lập nên một trật tự kinh tế quốc tế đúng đắn và công bằng, trong đó có tính đến
các lợi ích và nhu cầu của toàn thể loài người và đặc biệt là các lợi ích và
nhu cầu riêng của các nước đang phát triển, dù có biển hay không có biển;
Mong muốn phát triển bằng Công ước, các nguyên tắc trong
Nghị quyết 2749 (XXV) ngày 17 tháng 12 năm 1970, trong đó Đại hội đồng Liên hợp
quốc đã đặc biệt trịnh trọng tuyên bố rằng khu vực đáy biển và đại dương, cũng
như lòng đất dưới đáy các khu vực nằm ngoài giới hạn chung của loài người và
việc thăm dò, khai thác khu vực này sẽ được tiến hành vì lợi ích của toàn thể loài
người, không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia;
Tin tưởng rằng, việc pháp điển hóa và sự phát triển theo
chiều hướng tiến hóa của Luật biển được thực hiện trong Công ước sẽ góp phần
tăng cường hòa bình, an ninh, hợp tác và quan hệ hữu nghị giữa tất cả các dân
tộc phù hợp với các nguyên tắc công bằng và bình đẳng về quyền, và sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho tiến bộ về kinh tế và xã hội của tất cả các dân tộc trên thế
giới, phù hợp với các mục tiêu và các nguyên tắc của Liên hợp quốc như đã được nêu
trong Hiến chương;
Khẳng định rằng, các vấn đề không quy định trong Công ước sẽ
tiếp tục được xử lý bằng các quy tắc và nguyên tắc của pháp luật quốc tế chung;
Đã thỏa thuận như sau:
1. Những thuật ngữ được sử dụng trong Công ước cần được hiểu
như sau:
1. “Vùng” (Zone): là đáy biển và lòng đất dưới đáy
biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia;
2. “Cơ quan quyền lực” (Autorité): là cơ quan quyền lực
quốc tế về đáy biển;
3. “Các hoạt động được tiến hành trong Vùng” (activités
menées dans la Zone): là mọi hoạt động thăm dò và khai thác các tài nguyên của
Vùng;
4. “Ô nhiễm môi trường biển” (Pullution du milieu
marin): là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng
lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể
gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật
và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các
hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách
hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và
làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển;
5. a) “Sự nhận chìm” (immersion) là:
i. mọi sự trút bỏ có ý thức xuống biển các chất thải hoặc
các chất khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc công trình khác
được bố trí ở biển.
ii. mọi sự đánh chìm tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi
hoặc các công trình khác được bố trí ở biển.
b) Thuật ngữ “nhận chìm” không nhằm vào:
i. việc vứt bỏ các chất thải hoặc các chất khác được sản
sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phương
tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác được bố trí trên biển, cũng như các
thiết bị của chúng, ngoại trừ các chất thải hoặc các chất khác được chuyên chở
hoặc chuyển tài trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công
trình khác bố trí ở biển được dùng để thải bỏ các chất đó, trên các tàu thuyền,
phương tiện bay, giàn nổi hay các công trình đó tạo ra;
ii. việc tàng chứa các chất với mục đích không phải chỉ là để
thải bỏ chúng với điều kiện là việc tàng chứa này không đi ngược lại những mục
đich của Công ước.
2.1 “Các quốc gia thành viên” (Etats Parties) là
những quốc gia đã chấp nhận sự ràng buộc của Công ước và Công ước có hiệu lực
đối với các quốc gia đó.
2. Công ước được áp dụng mulatis mutandis (với những thay
đổi cần thiết về chi tiết) cho những thực thể nói trong Điều 305 khoản 1, điểm
b, c, d, e và f đã trở thành thành viên của Công ước, theo đúng với các điều
kiện liên quan đến từng thực thể; trong giới hạn đó, thuật ngữ “quốc gia thành
viên” cũng dùng để chỉ những thực thể này.
Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh
thổ và nội thủy của mình, và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng
nước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải (merterritoriale)
Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng
như đến đáy và lòng đất của biển này.
Chủ quyền của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật
quốc tế trù định.
Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của
mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo
đúng Công ước.
Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở
trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều
rộng của lãnh hải.
Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông
thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo
bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển
chính thức công nhận.
Trong trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc
các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, thì đường cơ sở dùng để tính chiều rộng
lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cũng của các mỏm đá, như đã
được thể hiện trên các hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận.
1. Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một
chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng
nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính
chiều rộng lãnh hải.
2. Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ
và những đặc điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc
theo ngấn nước triều thấp nhất có chuyển dịch vào phía trong bờ, các đường cơ sở
đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi đúng
theo Công ước.
3. Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng
chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn
với đắt liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy.
4. Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát
từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các
thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở
thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế.
5. Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở
thẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể
tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan
trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng.
6. Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không
được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng
đặc quyền kinh tế.
1. Trừ trường hợp đã được quy định ở Phần IV, các vùng nước
ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia.
2. Khi một đường cơ sở thẳng được vạch ra theo đúng phương
pháp được nói ở Điều 7 gộp vào nội thủy các vùng nước trước đó chưa được coi là
nội thủy, thì quyền đi qua không gây hại nói trong Công ước vẫn được áp dụng ở
các vùng nước đó.