
Lời dẫn: Cứ đến dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, mấy cụ "ný nuận gia" cờ vàng ba que và lũ rận chấy lại ra rả điệp khúc: “Cộng sản cướp công Trần Trong Kim”, hoặc “Nếu Không Có Đảng Cộng Sản Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Việt Nam Đã Có Dân Chủ, Tự Do và Nhân Quyền Rồi”…
Vậy SỰ THẬT LỊCH SỬ về cái chính phủ Trần Trọng Kim đó như thế nào? Có phải "chính phủ Trần Trọng Kim" là chính phủ ngụy, chính phù bù nhìn, chính phủ con rối như học sinh chúng ta được học xưa nay dưới mái trường XHCN hay không? Thời nay, nhiều bạn trẻ lên mạng đã bị "chao đảo" khi đọc những bài viết của các "ný luận gia" ba que như Phạm Cao Dương, hoặc đọc nhiều "tư liệu" của các đài phởn động BBC, RFA, VOA...
Google.tienlang giúp các bạn trẻ trả lời cầu hỏi trên đây. Chúng tôi sẽ không dẫn nguồn từ những trang sử sách của các tác giả Cộng sản Việt Nam.
Mời các bạn đọc các từ liệu dưới đây:
I. Người trong cuộc, Nhà báo Nguyễn Kỳ- Nam kể về bản "Tuyên cáo độc lập" của "Đế quốc Việt Nam".
“Tuyên cáo độc lập” của Bảo Đại được ký như thế nào?
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Triều đình Huế công bố bản “Tuyên cáo Độc Lập” do vua Bảo Đại cùng 6 vị Thượng thư thuộc Viện Cơ mật triều đình Huế ký ngày 11/3/1945.
Văn bản này do ai viết? Tâm thế và tư thế của những người tham gia ký văn bản này ra sao?
Để góp phần giải đáp các câu hỏi này, xin giới thiệu bài viết của nhà báo Nguyễn KỲ-NAM đăng trên báo Tin Điển số 75 (Năm Thứ nhứt) ra ngày 7/5/1946, in tại Sài Gòn.
Nhà báo Nguyễn Kỳ Nam tên thật là Nguyễn Thế Phương, bút danh phổ biến khác là Nam Đình.
Ông sinh năm 1906 tại Sài Gòn, từng làm phóng viên của nhiều tờ báo. Những năm 30, ông chủ trương tờ Đuốc công lý, rồi làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút nhật báo Thần chung.
Sau khi Triều đình Huế công bố bản “Tuyên cáo Độc Lập”, ông tham gia Chính phủ Trần Trọng Kim với vai trò là Đổng lý văn phòng của Bộ Tư pháp và làm báo Tin Điển. Việc trò chuyện với cụ Phạm Quỳnh (như bài viết ghi lại dưới đây) hẳn phải diễn ra quanh thời điểm này.
Dưới thời Ngô Đình Diệm, Nguyễn Kỳ Nam (Nam Đình) vẫn tiếp tục làm báo. Tờ báo của ông đã nhiều lần bị nhà cầm quyền đàn áp vì “khác chủ trương”. Năm 1963, sau khi Diệm bị phe đảo chính giết chết, Nam Đình lại tiếp tục cộng tác với báo Đuốc nhà Nam, Dân chủ mới...
Ông mất tại Pháp năm 1978.
“Đứng trên cầu Trường Tiền, ngó xuống chợ Đông Ba, nhìn mấy chiếc đò “đèn đỏ sông Hương”, cụ Phạm-Quỳnh không khỏi thẹn lòng, khi thấy biển ngữ: “ĐỒNG SANH ĐỒNG TỬ, CỘNG TỒN CỘNG VINH” của dân chúng Thuận-Hóa vẽ chữ lớn, sau ngày quân Nhật đánh đổ chủ-quyền của Pháp.
Gặp nhau ở đây, tôi hỏi cho rõ ràng về sự tuyên bố hủy bỏ Hiệp-ước 1884:
- Cụ lớn hủy điều-ước 1884, với hai câu: “Cứ tình thế chung trong thiên hạ, tình thế riêng Đông-Á, Chánh-phủ Việt-Nam công nhiên tuyên bố từ ngày nay Hiệp-ước 1884 với nước Pháp bãi bỏ…” có ý nghĩa siêu việt chi, mà tôi không được hiểu, cụ lớn vui lòng giải rõ lại…
Cụ Phạm-Quỳnh thở ra như hối hận một việc gì:
- Còn cụ lớn cụ bé chi nữa mà anh ngạo tôi? Đã là Dân vi quý theo khẩu hiệu của đức Kim-thượng Bảo-Đại tuyên bố, thì làm một thằng Dân như tôi ngày nay, chẳng là quý hơn sao?
Đến sự tuyên-bố hủy bỏ Hiệp-ước Bảo-hộ, thì nói thật ra, tôi nào có đặt một bản văn như thế.
-Thế sao cụ ký tên?
- Anh mà biết được hoàn-cảnh lúc bấy giờ?
Sau tiếng súng nổ đầu tiên đêm 9 tháng 3. Quân đội Nhựt vào Thành kiếm chúng tôi – những bạn đồng viện – đem giam lại một chỗ. Sáng ngày Yokoyama đón Kim-Thượng đi săn về, chừng đó, hội hiệp nhau ở lầu Kiến-Trung, tôi mới rõ sự tình… Qua ngày 11 tháng 3, Yokoyama trở lại, với một bản văn viết sẵn:
- Tôi cho các ông suy-nghĩ 15 phút, rồi ký tên hay là không ký, tùy ý.
Lúc bấy giờ tôi còn suy với nghĩ chi nữa. Một bạn đồng-viện với tôi, không nhớ ông nào, mới nói ra câu nầy: “Ký cũng vô khám mà không ký cũng vô khám. Ký thì vô khám chắc là dễ chịu hơn là không ký!...” Thế rồi toàn Viện Cơ-Mật ký tên “Lời tuyên bố Việt-Nam độc lập”.
Ngẫm-nghĩ một lúc lâu, cụ Phạm-Quỳnh gật đầu, nói tiếp:
- Hủy bỏ hay không hủy bỏ Hiệp-ước 1884 làm chi nữa? Nó đã bị hủy bỏ một cách gián tiếp trước khi tôi vô Huế nhận lãnh chức lại-bộ thượng thơ.
Bây giờ, tôi (tức Nguyễn Kỳ Nam) nhắc lại câu chuyện này, để kỷ-niệm sự tuyên-bố Việt-Nam độc lập rất dễ dàng theo chỗ nghĩ của các cụ Thượng, và cùng nhau nhận thức như cụ Phạm-Quỳnh đã nói – Hiệp-ước 1884 bị hủy bỏ gián tiếp từ lâu rồi”.
***
Để có thể hiểu nhận thức của cụ Phạm Quỳnh (cũng như quan điểm của tác giả Nguyễn Kỳ Nam): “Hiệp-ước 1884 đã bị hủy bỏ một cách gián tiếp từ lâu rồi”, xin phép làm rõ thêm một chút.
Lưu ý tiêu đề nhỏ của bài báo (xem ảnh) là: NGƯỜI PHÁP KHÔNG LÀM TRÒN SỨ MẠNG: GIỮ-GÌN QUỐC-THỔ VIỆT-NAM KHỎI NẠN NGOẠI-XÂM
Điều này liên quan đến Hiệp ước 1884, là hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 tại kinh đô Huế. Hiệp ước này còn gọi là Hòa ước Giáp Thân hay Hòa ước Patenôtre, gồm có 19 điều khoản.
Trong đó, tại Điều 15: “Nước Pháp cam kết từ đây sẽ bảo đảm sự nguyên vẹn lãnh thổ của Đức vua An Nam, bảo vệ Đức vua chống lại những cuộc tấn công từ bên ngoài và những vụ nổi loạn bên trong”.
Nhưng, bằng việc “bán đứng” đất nước ta cho Phát xít Nhật từ ngày 21 tháng 9 năm 1940, (điều mà Bảo Đại, khi trở thành cố vấn tối cao Vĩnh Thụy đã nói: “ Năm 1940, Chánh-phủ Pháp ở Đông-dương đã hiến một cách vô sỉ đất đai của chúng tôi cho phát-xít Nhật” – (như locliec đã trích ở đây)) thì rõ ràng “NGƯỜI PHÁP KHÔNG LÀM TRÒN SỨ MẠNG: GIỮ-GÌN QUỐC-THỔ VIỆT-NAM KHỎI NẠN NGOẠI-XÂM” như họ đã cam kết tại Điều 15 của Hiệp-ước 1884. Vì vậy, một cách gián tiếp, Hiệp ước này đã bị chính người Pháp vô hiệu.
Đó là quan điểm của cụ Phạm Quỳnh.
Rõ ràng, để có thể hình thành quan điểm này, cụ Phạm Quỳnh bấy giờ đã coi Nhật Bản là quân xâm lược chứ không phải là người mang lại “độc lập” cho nước Việt Nam.
Trong bài báo này, cụ Phạm Quỳnh kể lại với nhà báo Nguyễn Kỳ Nam mấy sự kiện đáng lưu ý:
- Đêm 9-3-1945, lính Nhật vào Kinh đô Huế, bắt nhốt toàn bộ 6 vị Đại thần trong Viện Cơ mật.
- Sáng hôm sau 10-3, đại sứ của Nhật, cố vấn tối cao Yokoyama Masayuki đưa lính Nhật “đón” (thực tế là áp giải) vua Bảo Đại đang trên đường đi săn về thì các vị Đại thần mới được trả tự do, vua quan cùng ngơ ngác gặp nhau ở điện Kiến Trung.
- Ngày hôm sau nữa 11-3, Yokoyama Masayuki mang bản “Tuyên cáo độc lập” viết sẵn từ lúc nào đến điện Kiến Trung.
- Tại đây, Yokoyama Masayuki cho phép Hoàng đế Annam cùng 6 vị Cơ mật Đại thần được… 15 phút “suy nghĩ”. Rồi có ký hay không, “tùy ý”!!! (ký thì dễ chịu hơn là… không ký).
Những sự kiện thực tế này phản ánh tính chất bị động và nô lệ của cái văn bản được giới rân trủ giả cầy gần đây gọi một cách rất “hoành tráng” là bản “Tuyên ngôn độc lập đầu tiên”.
Tiện đây, cũng xin được gửi tặng miễn phí tư liệu này cho ông Giáo sư sử học cờ vàng Phạm Cao Dương...
Do ông Giáo sư củ chuối này từng đoán mò:
“Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?
Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết của ông trước đó”.
II. Tổng Tư lệnh quân đội Nhật "giảng bài" cho Trần Trọng Kim, ngày 13-5-1945
Ngày 11-3-1945, Triều đình Huế công bố bản“Tuyên cáo Độc Lập”. Có điều, một văn kiện tối cao, cực kỳ quan trọng, liên quan đến vận mệnh cả một quốc gia này lại do một người Nhật, là Đại sứ Yokoyama Masayuki viết sẵn. Hoàng đế và Lục vị đại thần An Nam chỉ có 15 phút để… vừa ký và vừa run. (Xem ghi chép của Nhà báo Phan Kỳ Nam ở Phần I).
Nhưng chưa đầy hai tháng sau, ngày 9-5-1945, Đức đầu hàng Đồng Minh. Lúc này, nhà nước Quân chủ Nhật – chẳng khác gì đám bèo Tây để mớ bọt nội các Trần Trọng Kim bám vào - cũng lâm vào nguy cơ rã đám giữa dòng xoáy thời cuộc. Vậy là “nền độc lập ăn theo” của Trần Trọng Kim (và cũng là của một vài nhà rân chủ củ chuối ngày nay) cũng theo đó đếm từng ngày... chờ giờ báo tử.
Trong bối cảnh ấy, ngày 13-5-1945, Tổng-tư-lệnh quân đội Nhật-bản tại Đông-dương là tướng Tsuchihashi Yuitsu có một cuộc hội kiến với triều đình Huế tại điện Cần Chính.
Tại đây, Tướng Tsuchihashi Yuitsu đã đọc một bài diễn văn trước Bảo Đại và toàn thể Nội các Trần Trọng Kim. Bài phát biểu này đã được các báo tiếng Việt lúc ấy đăng lại vào ngày 18-5-1945.
Để góp phần tìm hiểu người Nhật đòi hỏi những gì ở Nội các Trần Trọng Kim vào thời điểm chỉ hai tháng sau khi ban phát món quà “độc lập bánh vẽ”, kèm khuyến mãi là nạn đói khủng khiếp đã làm chết hàng triệu người dân Việt, xin chép lại nguyên văn “bài giảng” của Tướng Tsuchihashi Yuitsu đối với Bảo Đại và nội các Trần Trọng Kim, trích từ sách Lịch-sử Độc lập và Nội-các đầu tiên Viet Nam do tác giả Nguyễn Duy Phương - Việt Đông xuất bản cục phát hành vào thời điểm ấy:
“Kính tâu Hoàng-thượng,
Nước Nhật-bản chúng tôi đương phải đối phó với một tình thế cực kỳ nghiêm-trọng chưa từng có trong quãng lịch-sử vẻ vang 2600 năm nay.
Hiện chúng tôi đã tới đầu một con đường rẽ nó đi tới hai đích và tùy theo số lực-lượng chiến-đấu đem xuất dụng, chúng tôi sẽ phải một là thắng trận, hai là bại trận.
Lực-lượng chiến đấu ấy là những gì? Trước hết là thực-lực của toàn-quốc chúng tôi, và sau nữa là sức hợp-tác của tất cả các nước trong Đông-á cùng chung số phận với Nhật vẫn muốn cho Nhật lấy phần toàn thắng.
Chắc Hoàng-thượng cũng thấu rõ ràng nếu Nhật bại trận thì toàn khu Đông-Á chẳng những không mong được thái-bình, thịnh-vượng và hạnh-phúc, mà trái lại còn lo sẽ gặp phải một cuộc đời khốn khổ hơn trước dưới quyền áp bức tàn khốc của người Âu Mỹ.
Sự hợp tác đó của các dân-tộc có thể xét theo hai quan-niệm, một là hợp tác tự-động hai là hợp-tác thụ-động.
Hợp-tác tự-động là các nước phải đem tất cả lực lượng ra giúp Nhật một cách hoạt-động để đánh bại kẻ thù chung.
Hợp-tác thụ-đông là các nước ấy phải nhất nhất không làm điều gì có thể cản trở hay giảm sức hoạt-động của các cơ-quan Nhật.
Nay ta hãy đem áp dụng nguyên-tắc trên cho Đông-dương. Nhân danh là Tổng-tư-lệnh quân đội Nhật ở xứ này, chúng tôi phải thi-hành các phương-sách để tăng lực-lượng cho các cơ quan phòng thủ trong xứ, chúng tôi phải dự mưu dùng binh.
Nếu các việc dự bị ấy không kịp thời, thì chúng tôi lỗi với nhiệm vụ. Chúng tôi cần phải có Việt-nam đế-quốc tận tâm hợp tác về phương diện tinh thần cũng như về phương diện vật chất, để cho sứ mệnh của chúng tôi được thực hiện một cách hoàn hảo. Điều kiện thứ nhất để thực hành sự hợp tác ấy là người Việt-nam hiểu rõ ý của nước Nhật thành ra góp sức với chúng tôi. Sự thành tâm ấy sẽ làm gốc cho cuộc hợp tác chặt chẽ về phương diện thực tế! Về phương diện này, nay mai chúng tôi sẽ dễ dãi với Nội-các mới vài điều yêu cầu nhiều (sic) như: phải tiếp tục làm những con đường quân dụng đã khởi công trong năm 1945, phải giữ nguyên các thuế khóa cần thiết để có tiền mà thi hành mọi việc. Vả lại tôi rất có ý làm sao cho nền trật-tự xã-hội khôi phục được, khả dĩ nhân dân trong toàn sứ (xứ) đều được yên tâm hợp tác với quân đội Nhật. Mục đích cốt yếu của chính sách chúng tôi là để tránh khỏi những sự nao lòng có phương hại đến cuộc trị-an. Bởi vậy tôi muốn rằng về mặt chính trị và hành chính, sự cải cách chỉ ở trong phạm vi tôi cần thiết đối với sự sắp đặt chiến lược. Chính vì đế-quốc tôi chuyên tâm lo việc binh bị nên tôi mong sao cho trong vấn đề hành chính, tôi phải bàn đến ít chừng nào hay chừng nấy.
Nếu Hoàng-thượng nhận rõ nguyên tắc tôi đương theo này, thì cái thái độ mà chính-phủ Việt-nam theo sẽ hiện rõ ràng trước mặt ngài: cái thái độ của một người bạn chân thành, một mặt chịu hy-sinh để giúp đỡ chúng tôi và một mặt không làm điều gì trở ngại cho chúng tôi.
Chúng tôi mong Hoàng-triều Chính-phủ sẽ mau tay cải tổ thế-hệ chính-trị trong nước để các dự án về chiến lược của chúng tôi có thể thực hành được dễ dàng.
Chúng tôi không khi nào nghĩ đến việc tham danh, dự vào chính sách nội-trị của nước Việt-nam độc-lập, nếu chính sách ấy không trở ngại cho các kế hoạch hành binh của quân đội Nhật.
Chúng tôi hiểu rõ nguyện vọng và cả các điều dự-trù của Hoàng-thượng để sau này kiết thiết lại nền độc-lập của nước Việt-nam. Chúng tôi cũng hết sức giúp vào việc củng cố nền độc-lập cho quý quốc, song nếu nước Nhật không được phần toàn thắng thì các nước ở Đại Đông-Á còn gì nữa? Trong trường hợp đó, tương lai Việt-nam sẽ ra thế nào? Trên kia tôi đã trả lời câu dự đoán bi quan ấy rồi. Tôi xin nhắc lại một lần nữa: Nước Nhật hiện đương ở một thời kỳ nghiêm trọng. Thời kỳ ấy sẽ định đoạt tương lai không những của nước Nhật nhưng của cả khu Đại Đông-Á.
Tâu Hoàng-thượng.
Nếu Ngài hiểu cho tình thế ấy và Chính-phủ ngài muốn hành động vì những ý nghĩa đã kể trên, thì tôi chắc chắn rằng toàn thể dân tộc Việt-nam sẽ chịu hy sinh để giữ lấy phần toàn thắng cho nước Nhật và như vậy cùng là đã giữ được thịnh vượng, hạnh phúc cho người Việt và lại bảo vệ được cả một tương lai rực rỡ cho toàn khu Đông-Á.”

III. PHÂN TÍCH RÕ HƠN "BÀI GIẢNG" CỦA TSUCHIHASHI YUITSU CHO TRẦN TRỌNG KIM
Đầu tiên, Tsuchihashi Yuitsu dạy ông Kim về khái niệm “hợp tác”:
“Hợp-tác tự-động… là phải đem tất cả lực lượng ra giúp Nhật một cách hoạt-động để đánh bại kẻ thù chung.
“Hợp-tác thụ-động… là phải nhất nhất không làm điều gì có thể cản trở hay giảm sức hoạt-động của các cơ-quan Nhật”.
Chắc là do e ngại các “học trò” u tối chưa thể tiếp cận các khái niệm cao siêu này, “thầy” Tsuchihashi Yuitsu đã diễn giải cụ thể hơn ở đoạn sau. Rằng: “hợp tác” ở đây có nghĩa gồm: “một mặt chịu hy-sinh để giúp đỡ chúng tôi và một mặt không làm điều gì trở ngại cho chúng tôi”.
Tóm lại, ông thầy người Nhật đòi hỏi Nội các phải biết “hy sinh”, dĩ nhiên là hy sinh quyền lợi của người dân Việt. Đổi lại, Nội các của Tổng trưởng Trần Trọng Kim sẽ được người Nhật “lại quả” những gì?
Thì đây, những món quà mà Tsuchihashi Yuitsu sẽ ban phát cho “học trò”:
- “Nay mai chúng tôi sẽ dễ dãi với Nội-các mới (với) vài điều yêu cầu nhiều (sic) như: phải tiếp tục làm những con đường quân dụng đã khởi công trong năm 1945, phải giữ nguyên các thuế khóa cần thiết để có tiền mà thi hành mọi việc”;
- “Chúng tôi không khi nào nghĩ đến việc tham danh, dự vào chính sách nội-trị của nước Việt-nam độc-lập, nếu chính sách ấy không trở ngại cho các kế hoạch hành binh của quân đội Nhật”;
- “Chúng tôi cũng hết sức giúp vào việc củng cố nền độc-lập cho quý quốc, song nếu nước Nhật không được phần toàn thắng thì các nước ở Đại Đông-Á còn gì nữa? Trong trường hợp đó, tương lai Việt-nam sẽ ra thế nào?”...
Cuối “bài giảng”, Tsuchihashi Yuitsu huỵch tẹt với Nội các:
“Toàn thể dân tộc Việt-nam sẽ chịu hy sinh để giữ lấy phần toàn thắng cho nước Nhật”.
Rõ ràng, xét về mọi mặt, từ nội dung đến văn phong, xuyên suốt “bài giảng”, ông “thầy” người Nhật đã không dấu diếm thái độ khinh miệt, coi thường đám “học trò”, đàng sau đó là “vương thể” hay “quốc thể” của cả một “Đế quốc Việt Nam” mà họ vừa ban tặng nền “độc lập”.
Chắc hẳn Tsuchihashi Yuitsu đánh giá ngài Tổng trưởng Trần Trọng Kim là một hủ nho chậm lụt, u mê, chẳng có mấy tý năng lực chính trị nên ngôn phong trong “bài giảng” của y mới ngạo mạn và sỉ nhục đến thế.
Tsuchihashi Yuitsu kia thật đã nhầm to! Nhầm to!
Ông Trần Trọng Kim là một nhà rất - rất thông thái! - Đó là một điều dường như rất ít người dám cãi!
Rõ ràng là chỉ trong vài tháng lãnh đạo Nội các, “học trò” Trần Trọng Kim đã tỏ ra cực kỳ nhạy bén và mẫn cán. Riêng cái khoản tư duy về sự “hy sinh” xem ra còn ở đẳng cấp vượt trội so với trình độ “ông thầy”. Thậm chí, khi mà Tsuchihashi Yuitsu còn chưa mở miệng bảo phải “hy sinh tự động”, thì ông Trần Trọng Kim đã đoán ý thầy mà “tự động” đem dân Việt ra mà “hy sinh” rồi.
Bằng chứng là 10 ngày trước khi “ông thầy” Nhật “lên lớp” về sự “hy sinh” tại điện Cần Chánh thì ông Trần Trọng Kim đã đọc Tuyên cáo với quốc dân Việt Nam ngay sau phiên họp Nội các đầu tiên ngày 3-5-1945, rằng:
“Muốn giữ vững nền độc-lập; quốc dân ta còn phải gắng sức làm việc, và chịu nhiều sự hy-sinh nữa. Vừa mới được giải phóng nước ta không thể nghĩ tới sự chiến tranh với ai nhưng ta phải thành thực hợp tác với nước Đại Nhật-Bản trong sự kiến thiết nền Đại-Đông-Á. Vì cuộc thịnh vượng chung của Đại-Đông-Á có thành, thì sự độc-lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoảng qua”.
Kể cả sau khi Đức ký văn bản đầu hàng Đồng Minh (9-5-1945), tình thế nước Nhật lâm vào cảnh “ốc còn không mang nổi mình ốc nữa là mang cọc cho rêu”, số phận cả “nước cha” là Nhật, lẫn “nước con” là Đế quốc Việt Nam chỉ còn đếm được từng ngày, từng giờ… Ấy thế mà ông Tổng trưởng Nội các vẫn cứ hùng hồn tuyên bố với quốc dân, rằng cần phải tiếp tục “hy sinh” cho quân đội Nhật:
“Việc nước Đức đầu hàng không hại gì đến sự liên lạc mật thiết giữa hai nước Nhật và Việt Nam… Sự bại trận ấy không thể giảm bớt lòng chúng ta kiên quyết giúp Nhật Bản đeo đuổi cuộc chiến đấu cho đến khi toàn thắng để kiến thiết vùng Đại Đông Á… ta chỉ phải giữ vững cuộc trị an trong nước và chịu những hy sinh cần thiết để cho quân đội Nhật Bản được chúng ta tận tâm giúp đỡ về mặt tinh thần và vật chất, nền độc lập của chúng ta có như thế mới thật vững bền”.
Và thực tế càng chứng tỏ năng lực và sự mẫn cán vượt trội của ông Kim: chỉ sau 4 tháng nắm quyền, Nội các Trần Trọng Kim đã “hy sinh” từ các khoản đóng góp của quốc dân để nộp cho Nhật khoản tiền lên đến 720 triệu Piastre (đồng bạc Đông Dương), tức là bằng 7 tỷ 200 triệu Franc.
Số tiền nói trên cũng tương đương với số tiền mà thực dân Pháp đã nộp cho Nhật từ 1940 cho đến ngày bị Nhật đá đít (9-3-1945) là 726 triệu Piastre.
Nhưng người Pháp cống nộp dài dài trong những 5 năm, còn ông Kim “tự động hợp tác” số tiền tương đương chỉ trong có 4 tháng, nói theo kiểu bây giờ là chỉ “trong vòng 4 nốt nhạc”! Quả là một thành tựu siêu tốc, nhanh hơn “nước mẹ” Đại Pháp đến 15 lần.
Bất chấp khi đó nạn thiếu lương thực hoành hành khiến cho 1/10 dân số nước Việt lâm vào cảnh chết đói.
Với thành tích xuất sắc này, ông Trần Trọng Kim quả đã cúc cung tận tụy, “hợp tác tự động” trên cả mức mong đợi so với “huấn ngôn” của ông “thầy”, rằng: “phải giữ nguyên các thuế khóa cần thiết để có tiền mà thi hành mọi việc”.
Đấy, xem thế thì biết chính trị gia thông thái Trần Trọng Kim chẳng những không phải là tên “học trò” kém cỏi u mê của viên tướng Nhật mà còn xứng tầm ngược lại.
Thật tự hào lắm thay!!!
Gì chứ về khoản đem đồng bào mình làm vật “hy sinh” nhằm phục vụ các lợi ích ngoại bang thì tay Tổng tư lệnh quân đội Nhật tại Đông dương kia cứ là phải gọi ông Thủ tướng Nội các Đế quốc Việt Nam 1945 - thần tượng của đám rân trủ củ chuối nhà mình - bằng cụ!
Hoàng Minh Tâm, Theo Cụ Lý